DIỆU HUỆ ĐỒNG NỮ

Ngài Bồ Đề Lưu Chi dịch từ Phạn sang Hán (1982) Diệu Huệ Đồng Nữ Đường lối xây dựng hạnh phúc cao thượng A. GIỚI THIỆU VẤN ĐỀ: Tinh thần Đại thừa Phật giáo nhằm mục đích cải tạo và nâng cao đời sống nhân loại chúng sanh để đạt được hạnh phúc an vui…

—— Trích đoạn DIỆU HUỆ ĐỒNG NỮ

 

Giới thiệu chung

Tác phẩm này được giới nghiên cứu và học giả đánh giá là một trong những bài thuyết giảng tinh yếu nhất, chứa đựng triết lý uyên thâm về sự giải thoát toàn diện. Văn kiện được tập hợp và ghi chép lại sau những kỳ kiết tập kinh điển đầu tiên, nhằm bảo tồn trọn vẹn những giáo huấn nguyên bản trước nguy cơ mai một. Trọng tâm của nội dung xoay quanh việc đả phá những tà kiến sai lệch, đồng thời thiết lập lăng kính chánh kiến để hành giả nhìn nhận thế giới đúng như bản chất thật của nó. Các phương pháp tu tập được trình bày một cách vô cùng hệ thống, giúp người học dễ dàng ứng dụng vào quá trình chuyển hóa bản thân từng bước một. Ý nghĩa lịch sử và tâm linh của bản kinh vô cùng to lớn, bởi nó cung cấp một định hướng rõ ràng cho những ai đang bối rối giữa muôn vàn luồng tư tưởng trái chiều. Dù trải qua hàng thế kỷ lưu truyền và dịch thuật, cốt tủy của văn bản vẫn tỏa sáng rực rỡ và giữ nguyên sức mạnh thức tỉnh. Không chỉ là một cuốn sách tôn giáo, nó còn là một kiệt tác văn học tâm lý, mang đến sự tĩnh tại bình an. Nhìn chung, sự tồn tại của văn kiện này là di sản bất diệt hướng tới những giá trị chân thiện mỹ.

Nội dung kinh

Ngài Bồ Đề Lưu Chi dịch từ Phạn sang Hán

(1982)

Diệu Huệ Đồng Nữ

Đường lối xây dựng hạnh phúc cao thượng

A. GIỚI THIỆU VẤN ĐỀ:

Tinh thần Đại thừa Phật giáo nhằm mục đích cải tạo và nâng cao đời sống nhân loại chúng sanh để đạt được hạnh phúc an vui và siêu thoát ngay từ trong thế giới hiện tại và mãi mãi ngàn sau.Tinh thần đó được thể hiện trong tư tưởng của nhiều kinh điển đại thừa, nhất là sau thời kỳ phong trào Đại thừa Phật Giáo được hưng khởi và phát triển mạnh từ sau kỳ kiết lập kinh điển lần thứ IV. Tư tưởng này mang nhiều ý nghĩa đặc sắc trong chiều hướng xây dựng về đời sống con người. Nó có tính cách nhân bản, lấy con người làm đối tượng xây dựng và phụng sự. Đó là đường hướng xử thế, và chính là công hạnh lợi tha của Bồ Tát Đạo.Tinh thần Bồ Tát Đạo rộng lớn bao la tuyệt diệu, nên sự thực hành của Bồ Tát cũng phóng khoáng, phổ biến tự tại. Tinh thần đó không bị giới hạn trong thành phần xuất gia hay tại gia, hoàn cảnh hay phương tiện, cũng không hạn cuộc trong không gian thời gian, phần lớn sự thực hiện Bồ Tát đạo được lưu ý và nhấn mạnh đến vai trò hộ pháp và duy trì đạo pháp của người cư sĩ tại gia, đặc biệt ở đây là tinh thần Bồ Tát đạo được ý thức, trình bày và thực hiện bởi tâm niệm cao cả của một nữ nhi: DIỆU HUỆ ĐỒNG NỮ KINH DANH:

Diệu Huệ Đồng Nữ Kinh còn có tên là Tu Ma Đề Bồ Tát Kinh. Từ tên kinh:

Diệu Huệ Đồng Nữ cũng nói lên phần nào ý nghĩa của chuyện sắp được kể.

Diệu Huệ là tên của nhân vật chính trong chuyện. Tàu dịch là Tu Ma Đề.

Nói đến Diệu (Su) tức là nói đến những cái gì khéo léo, hoàn hảo, tuyệt vời và màu nhiệm, xứng nghĩa với tiếng Phạn là Su, tức là cái tốt đẹp hoàn thiện. Diệu Huệ là một khả năng trí tuệ tuyệt vời, một tấm lòng nhân ái sáng suốt bao la hoàn hảo.

Đồng Nữ: Tức là cô gái, tiểu thư. Cô bé Diệu Huệ hay Tu Ma Đề trong câu chuyện này là hiện thân của một vị Bồ Tát đã phát tâm Bồ Đề vá tích tụ nhiều công đức tu niệm từ nhiều đời quá khứ, có một khả năng trí huệ sáng suốt (trí thức), và một lòng từ bi (tình thương) đối với tất cả chúng sanh còn mê mờ chưa tu tập và thực hành theo chánh pháp. Mục đích của Bồ Tát là phải bảo vệ chánh pháp để đạt đến cứu cánh tối hậu là đưa tất cả chúng sanh về trong nguồn suối chánh pháp an lạc.

Chánh pháp được bao gồm cả hai phương diện: tình yêu và trí tuệ, thì Bồ Tát cũng phải thể hiện hai công hạnh, tình thương và trí thức. Phải hiểu biết và phân biệt rõ ràng đâu là hạnh phúc khổ đau, và đâu là chân thật giả dối. Bồ Tát Diệu Huệ dùng trí tuệ quán thông tất cả nỗi khổ của chúng sanh và đích thân đến chúng hội thính pháp rồi cung kính bạch Phật để cầu mong Ngài giảng giải phương cách phải xây dựng và hướng dẫn đời sống mình và người khác như thế nào để tiến lên một hạnh phúc an lạc trường cửu vững bền. Xây dựng niềm an lạc cho chính bản thân mình và dẫn đến nguồn hạnh phúc vĩnh viễn cho kẻ khác, đó chính là hành động, là đường lối xử thế, là thái độ sống, là thực hành Bồ Tát đạo. Đường lối sống này theo quan điểm của Diệu Huệ được tóm tắt trong 10 nghi vấn và được Đức Phật giải đáp, trình bày chi tiết rõ ràng trong 40 vấn đề được gặp lại trong Diệu Huệ Đồng Nữ Kinh XUẤT XỨ:

Diệu Huệ Bồ Tát trong câu chuyện sau đây được trích dịch từ kinh Bảo Tích (Ratnakuta), có nơi dẫn tên là Ratnakùta. Đó là một văn hệ kinh điển Sanskrit, bao gồm tư tưởng Đại thừa Bồ Tát kinh, ở trong đó tích tập nhiều văn hệ khác gồm nhiều tư tuởng về Bát Nhã, Mật giáo đại tập, Hữu bộ Tỳ Nại Da tập sự, v.v….Đây là một công trình tuyển lọc những kinh điển có hàm chứa về công hạnh của các Bồ tát trên đường nhiếp hóa chúng sanh trở về nguồn suối an lạc. Từ ý nghĩa đó kinh Bảo Tích được hiểu như là một đống báu, một kho báu , gác báu v.v… chứa đựng nhiều tấm gương sáng ngời công hạnh Bồ Tát trên sự nghiệp hoằng hóa, bảo vệ và duy trì chánh pháp. Đó là Bồ Tát tạng, chứa đựng tư tưởng phóng khoáng, cấp tiến, thung dung tự tại của đạo Bồ Tát, biểu hiện một truờng phái mới dị biệt với tư tưởng bảo thủ của Tiểu Thừa, trong đó đặt nặng vai trò hộ pháp và trách nhiệm hoằng hóa của người cư sĩ ý thức trách nhiệm mình trong việc duy trì và bảo vệ chánh pháp. Hẳn nhiên thỉnh thoảng cũng có xuất hiện một vài tư tưởng hay quan  điểm chống lại những thành phần tu sĩ cố chấp, bảo thủ sai lầm. Ngày nay, dĩ nhiên chúng ta không thể tìm lại được nguyên bản Phạn văn, vì kinh Bảo Tích được tuyển lọc các văn kiện từ nhiều văn hệ khác nhau nên chỉ cón tìm thấy trong Đại Tạng kinh bằng Hán văn và trong Đại Tạng kinh bằng văn Tây Tạng.

Diệu Huệ Đồng Nữ Kinh này được trích dịch từ kinh Bảo Tích (3).

Đây là một phẩm hội trong 49 phẩm hội tất cả của văn hệ Bảo Tích. Tuy nhiên, có nhiều bản dịch kinh này về Hán văn, như bản dịch của Ngài Cưu Ma La Thập đời nhà Tần, dịch từ Phạn sang Hán văn, có bản dịch Ngài Trúc Pháp Hộ đời Tấn dịch. Riêng bản văn này do Ngài Bồ Đề Lưu Chi đời Đường đã dịch ra.

Chúng ta cũng có thể tìm bản kinh này trong Đại Tạng (4) với tên kinh là Tu Ma Bồ Đề Tát Kinh trong đó có nêu rõ tên vị trưởng giả thân phụ của Tu Ma Đề là Ưu Ca hoặc Úc Ca theo hai bản dịch của Ngài La Thập và Pháp Hộ. Ngoài ra, theo truyền thống kinh văn Pali trong Tăng Nhứt A Hàm (5) Tu Ma Đề Nữ kinh do Ngài Đam Ma Nan Đề đời Tần dịch từ Pali sang Hán văn, thì nội dung câu chuyện với nhiều chi tiết đã hoàn toàn sai khác ý nghĩa và nội dung tinh thần Bồ Tát mà kinh Diệu Huệ Đồng Nữ đã trình bày.

B. NỘI DUNG CÂU CHUYỆN:

Điểm đặc biệt kỳ thú của câu chuyện là hình ảnh một cô bé 8 tuổi ở vào thời chánh pháp, nhân lúc nghe Phật thuyết pháp, đã khéo léo đưa ra những điều nghi vấn để thưa thỉnh Đức Phật nguỡng cầu Thế Tôn khai ngộ và mở đường cho chính mình và tất cả chúng hội Tỳ kheo cùng với các vị Đại Bồ Tát Đại Thừa tu tập công đức thiện hạnh để cải tạo đời sống con người trở nên một đời sống hạnh phúc cao đẹp, vĩnh viễn an vui và giải thoát của các bậc thánh nhân. Chuyện được kể rằng:

Một thuở nọ Đức Phật Thích Ca trú tại thành Vương Xá thuyết pháp cho chúng hội Tỳ kheo, Bồ Tát Đại sĩ vô cùng đông đảo đến tham dự. Điều khiến cho tất cả đại chúng ai nấy đều ngạc nhiên giữa pháp hội là sự xuất hiện của một đứa bé gái với vẻ mặt tươi sáng thông minh thánh thiện đoan trang đến dự thuyết pháp. Sự ngạc nhiên càng tăng thêm nữa khi cô bé tiến dần đến pháp tòa của Đức Phật đảnh lễ cung kính, đi nhiễu quanh thế Tôn 3 vòng rồi quỳ xuống để thưa thỉnh ý kiến, Đức Phật nhận thấy rằng đây là một nhân duyên tốt, một cơ hội thuận tiện để Ngài giải trừ tất cả nghi ngờ, mê vọng cho tất cả chúng sanh. Ngài hoan hỷ cho phép được trình bày ý nghĩ của mình, cô bé ấy không ai khác hơn là Diệu Huệ Đồng Nữ, một vị đã phát tâm Bồ Đề từ đời quá khứ, tích tụ rất nhiều công đức và đã từng hộ niệm rất nhiều vị Bồ Tát thành tựu vô sanh pháp nhẫn.

Sau khi được Phật cho phép thưa thỉnh, Diệu Huệ liền quỳ xuống đọc một bài kệ, với nội dung nêu rõ mười quan điểm nhận thức sau:

1)

Làm thế nào để thành tựu được thân đoan chánh, có đầy đủ các tướng xinh đẹp trang nghiêm?

2)

Muốn sanh vào địa vị giàu sang, được mọi người tôn quý thì phải thực hiện những hạnh gì?

3)

Làm thế nào để bảo đảm vững bền không khí đầm ấm khắn khít hòa nhã trong gia đình, bà con, quyến thuộc không bị phân tán chia lìa?

4)

Làm sao thành tựu được thân mình thọ báo trong cõi hóa sanh, trú trên ngàn cánh sen để quy hướng, cúng dường các Đức Phật?

5)

Muốn chứng đặng thần thông tự tại siêu việt, đến khắp vô lượng cõi Phật để đảnh lễ cung kính các đức Phật phải tu hạnh gì?

6)

Làm sao đạt được tâm không oán hận, ra xử thế cũng không bị người khác oán hận?

7)

Phải sống như thế nào để bất cứ lúc nào lời nói mình đều được mọi người tin tưởng, hoan hỉ và ghi nhận?

8)

Làm thế nào để xa lìa tất cả chướng ngại, và thành tựu dễ dàng các pháp thanh tịnh?

9)

Các ma nghiệp làm thế nào để đoạn trừ và xa lìa tất cả?

10) Làm thế nào đến giờ phút trút hơi thở cuối cùng được thấy chư Phật hiện tiền, nghe thuyết pháp thanh tịnh, không còn thọ báo khổ não?

Bài kệ được tóm tắt trong 10 nghi vấn mà Diệu Huệ vừa thưa thỉnh Thế Tôn hàm chứa ý nghĩa sâu xa về nhân sinh quan Phật giáo trong tiến trình tu tập và tìm kiếm con đường dẫn đến một đời sống an vui vĩnh viễn từ lúc thọ sanh được thân người cho đến lúc lâm chung, được tóm tắt qua 10 nghi vấn, thắc mắc. Bằng một khả năng trí tuệ tuyệt vời mới khởi sinh ra những nghi vấn đó, và bằng một tình thương bao la bình đẳng mới thực hiện trọn vẹn những công hạnh mà Đức Phật khuyên dạy đáp ứng với những điều băn khoăn thắc mắc nghi vấn trong tâm tư của Đồng Nữ. Nêu lên 10 câu hỏi này tức là đặt vấn đề làm thế nào để dẫn đến một đời sống an vui hạnh phúc cao thượng. Sở dĩ chúng sanh từ lâu đời lâu kiếp thân phận chuyển xoay mãi hoài trong vòng sinh tử, trầm luân khổ não vì vọng động vô minh, không nhận chân được một hướng đi đích thực cho mình và tất cả mọi người, cứ để cho vô minh phiền não vọng nghiệp cuốn trôi theo dòng đời ảo mộng. Ngay từ bây giờ phải ý thức kịp thời điều đó để sớm xóa bỏ một giòng sống mê lầm điên đảo thành một kiếp sống an lạc.

Đức Phật nhân cơ hội này bèn giảng giải và cắt nghĩa rõ ràng bốn mươi phương cách cần phải thực hiện để đạt được toàn vẹn những khát vọng chính đáng của chúng sanh. Ngài ca ngợi tán thán về ý nghĩa tuyệt diệu vấn đề Diệu Huệ vừa đặt ra. Ngài khuyên tất cả hãy lắng tâm tư rồi nhớ kỹ những điều giải đáp để hành trì tu tập.

A. GIẢI THÍCH VÀ TRÌNH BÀY NHỮNG PHƯƠNG THỨC SỐNG ĐÁP ỨNG NHU CẦU MƯỜI NGHI VẤN:

Đức Phật tuần tự giải thích từng vấn đề và qua mỗi nghi vấn Ngài trình bày bốn phương thức sống để đạt được ý nguyện chính đáng cao đẹp đó.

1.Trước hết, làm thế nào để thành tựu được thân đoan chánh, có đầy đủ tướng xinh đẹp trang nghiêm, Ngài dạy các Bồ Tát phải thực hiện bốn phương  pháp sau  đây:

-Đối với các ác hữu, không khởi tâm sân hận:

Nếu thiện hữu tri thức là những nhân duyên hệ trọng lớn lao trong năng lực trợ duyên cho chúng ta thoát ly ra khỏi cảnh đời khổ não tử sinh, thì ác hữu chưa hẳn là duyên xấu, để đưa chúng ta vào trầm luân khổ hải.

Trên đường đời nếu càng gặp nhiều trở ngại và nghịch cảnh thì càng lại rèn luyện un đúc thêm các đức tính chịu đựng, nhẫn nhục, mềm dẻo, kiên chí để trở thành con người tốt làm lợi ích cho tất cả mọi người và thích ứng với mọi hoàn cảnh. Điển hình như trong kinh Pháp Hoa, Đề Bà Đạt Đa – em họ của Đức Phật, trọn đời thường hay làm những việc ác tâm phản nghịch, cố tình phá hoại uy tín, đạo đức của Ngài, đến nỗi cố tình ám hại sinh mạng của Phật như tẩm độc vào móng tay để cào cấu lúc đảnh lễ dưới chân Ngài, hoặc thả bày voi say để chà đạp tàn hại, xô đá lăn xuống mình Ngài. Tuy nhiên Phật chẳng hề khởỉ tâm sân hận mà còn phải tìm cách hướng dẫn họ quay về chánh pháp.

Trước giờ phút xả bỏ nhục thân để tịch diệt Niết Bàn, Đức Phật đã ân cần nhắc nhở các Thầy Tỳ Kheo một cách thật cảm động: „Các Thầy Tỳ Kheo! nếu ai cắt  xả thân các Thầy ra từng mảnh, từng đoạn, các Thầy phải tự kìm chế tâm mình, đừng cho giận dữ …Tâm giận dữ nổi lên là tự hại đạo nghiệp, hư mất công đức. Kẻ nào không thể tiếp nhận cái độc nhục mạ một cách hoan hỷ như uống nước cam lồ, kẻ ấy không được ca tụng là người nhập đạo có trí(5)“ -Tâm thường trụ trong tình thương rộng lớn:

Người tu hạnh Bồ Tát phải thực hành hạnh từ bi bên cạnh trí tuệ sáng suốt để huớng dẫn chúng sanh nhập vào thánh đạo giải thoát. Bồ Tát lăn xả vào cuộc đời không ngại nhọc nhằn, không tiếc thân mạng, để hoàn thành mục đích cứu khổ cho tất cả chúng sanh. Ngày nào chúng sanh còn khổ đau thì thực hành của Bồ Tát đạo vẫn còn liên tục. Chúng sanh vì vọng niệm vô minh nên mãi còn chìm đắm trong khổ đau phiền trược, nên sự thực hành tâm từ bi đem an vui, cứu khổ cho muôn loài lại cần phải đề cao một cách khẩn thiết hơn nữa. Bồ Tát thực hiện tâm từ bi đối với tất cả chúng sanh kẻ nào đang đau khổ cần được an vui thì cố gắng tìm mọi sự an vui cho thân tâm họ, không bao giờ khởi lên trong tâm niệm mình một ý niệm ác độc để não hại kẻ khác. Ngoài ra riêng đối với bản thân mình cũng phải tìm cách hàng phục tâm mình đừng nên giận dữ, não loạn. Vì vậy kinh Thập Thiện nghiệp đạo có nhấn mạnh hai đức tính này như sau: „ Vì lấy lòng từ trang nghiêm, nên đối với chúng sanh không khởi tâm não hại.Vì lấy lòng bi trang nghiêm, nên thương các chúng sanh thường không chán bỏ“(7) Thực hiện tâm từ bi rộng lớn và an trú trong tâm từ bi đó vừa đem lại an vui lợi ích cho mọi người, đồng thời chính công hạnh này đã phát triển tâm niệm rộng rãi bao la trong nguồn an lạc vô biên cho chính mình. Đó là hai hạnh cao cả và đầu tiên khi Bồ Tát đi vào việc tu tập và thực hiện Tứ Vô Lượng Tâm: Từ, Bi, Hỷ, Xả.

-Tâm thường vui vẻ sâu xa trong chánh pháp:

Chánh pháp tối thượng có khả năng đưa hành giả từ trong đớn đau thống khổ đi đến an vui giải thoát. Tâm đã diệt trừ tất cả mọi phiền não vọng tưởng để an trú vào trong chánh pháp tối thượng đó, phải luôn luôn phát khởi niềm tin thâm sâu hoan hỷ và vui vẻ tắm gội trong nguồn suối chánh pháp. Tâm một khi đã  an trụ vào trong chánh pháp rồi thì đạt đến trạng thái an tịnh, siêu thoát, tự tại dễ dàng thung dung trong tiến trình tu tập và thực hiện tinh thần Bồ Tát đạo, làm lợi ích và an  lạc cho hết thảy mọi loài hữu tình chúng sanh. Đó là nhân duyên tốt trên con đường tiến đến thành tựu và chứng đắc đạo quả Vô Thượng Bồ Đề (Anuttara Samyak Sambodhi).

-Đắp tạo các hình tượng chư Phật, và các vị Bồ Tát:

Thân tướng của chư Phật, Bồ Tát có nhiều tướng hảo trang nghiêm, đầy đủ 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp, nên chiêm ngưỡng pháp thân Ngài để phát khởi tâm hoan hỷ, tinh tấn, kẻ mới phát tâm tu học cần đối tượng tôn kính, để chiêm ngưỡng, làm tăng thêm tín tâm. Nhìn tướng hảo của các Ngài để phát tâm từ bi, hỷ xả, diệt trừ sân hận và si mê, đồng thời nhìn vào để soi chiếu tấm gương trí tuệ trên tiến trình mong cầu tuệ giác. Vì vậy tạo lập hình tượng để tôn thờ và để cho kẻ khác chiêm ngưỡng sẽ thành tựu công đức vô cùng to lớn. Trong kinh Địa Tạng (Ksitigarbha Sùtra), Đức Phật đã dạy cho Bồ Tát Phổ Quảng và đại chúng biết rằng chính nhờ vào công đức cúng dường, đắp vẽ tạo dựng hình tượng của Địa Tạng Bồ Tát dù bất cứ bằng phương tiện nào như đất, đá, keo, đồng, sơn, sắt, v.v…thường dâng cúng hương hoa, đồ ăn, đồ uống, y phục, gấm lụa, vật báu. v.v….nhờ gieo phước đức cúng dường đó, dù là nữ nhân sẽ chuyển được thân nữ cả trăm ngàn muôn kiếp, lại có tướng mạo xinh đẹp đoan trang, sau khi chết sẽ sanh lên cõi trời Đao Lợi, không còn sa đọa vào ác đạo. Cũng kinh này(9), vị Kiên Lao Địa Thần có trình bày về mười điều lợi ích trong công đức đắp họa hình tượng Bồ Tát, đốt hương cúng dường chiêm lễ ngợi khen thì chỗ đó được 10 điều lợi ích như đất cát tốt màu, nhà cửa an ổn, người chết sanh lên cõi trời, người hiện còn  hưởng lợi ích cầu chi cũng toại ý, không có tai họa về nước và lửa, trừ sạch việc hư hao, dứt hẳn ác mộng, ra vào có thần theo hộ vệ, thường gặp bậc thánh nhân.

Đọc toàn văn →

Đánh Giá

Chưa có đánh giá nào.

Thêm đánh giá

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *