– Duyên Khởi
– Tâm Ở Chỗ Nào?
– Tánh Thấy Không Phải Con Mắt
Đây là những điều chính tôi được nghe:
Thuở đó Phật ngự tại tinh xá Kì-hoàn(3) ở thành Thất-la-phiệt(4), với đầy đủ đại chúng tì kheo gồm một ngàn hai trăm năm mươi vị, đều là các bậc vô lậu đại A-la-hán(5), trong đó có quí vị tôn giả Đại Trí Xá Lợi Phất, Đại Mục Kiền Liên, Đại Câu Hi La, Phú Lâu Na, Tu Bồ Đề, Ưu Bà Ni Sa Đà, vân vân. Quí vị tôn giả đó đều là bậc thượng thủ trong đại chúng, là những vị Phật tử trụ trì(6), đã vượt thoát ba cõi, nhưng vẫn ở nơi quốc độ này mà thành tựu các uy nghi; thường theo Phật giúp chuyển pháp luân, giới hạnh nghiêm tịnh, làm khuôn mẫu cho khắp ba cõi; có đầy đủ khả năng kham nhận sự phú chúc của Phật, ứng hiện vô số thân để cứu độ chúng sinh, trải suốt hiện tại vị lai đều được giải thoát.
Hôm ấy lại nhằm ngày mãn hạ tự tứ của đại chúng tì kheo, nên có vô lượng chư vị Bích-chi vô học(7) cùng với các đệ tử sơ phát tâm(8), cũng cùng nhau vân tập đến chỗ Phật; đồng thời, chư vị Bồ-tát từ mười phương cũng đến xin Phật giải tỏa cho những điều còn nghi ngờ, kính vâng đức Từ Nghiêm(9), thỉnh cầu được nghe giáo nghĩa thâm mật.
Bấy giờ đức Thế Tôn tự trải tọa cụ, ngồi an lạc, vì tất cả hội chúng mà tuyên dạy pháp bí áo thâm diệu. Toàn thể thính chúng thanh tịnh trong pháp hội được nghe giáo pháp chưa từng có.
Pháp âm của Phật nghe hòa nhã như tiếng chim ca-lăng-tần-già(10), vang khắp thế giới mười phương; vô số Bồ-tát, do ngài Văn Thù Sư Lợi làm thượng thủ, cùng vân tập đến đạo tràng.
Lúc bấy giờ vua Ba Tư Nặc(11), nhân ngày húy kị phụ vương, đã thỉnh Phật vào cung để cúng dường ngọ trai. Nhà vua sắm sửa đầy đủ các món ăn trân quí, rồi đích thân đi rước đức Phật cùng chư vị đại Bồ-tát.
Vào giờ đó, quí vị trưởng giả, cư sĩ ở trong thành Thất-la-phiệt cũng đã sắm sửa trai phạn sẵn sàng, đang chờ Phật đến ứng cúng. Đức Phật ủy thác cho ngài Văn Thù chia quí vị Bồ-tát và A-la-hán đi đến các nhà thí chủ để ứng trai; chỉ trừ đại đức A Nan, vì trước đó đã nhận lời mời riêng, đi xa không về kịp giờ để dự vào hàng với tăng chúng. Đại đức về trễ và đi một mình, không có vị thượng tọa hay a xà lê nào đi cùng. Hôm ấy không được ai cúng dường, cho nên đại đức phải ôm bình bát đi vào thành, theo thứ lớp mà khất thực(12). Trong tâm, đại đức chỉ mong được một người đàn việt cuối cùng làm trai chủ(13), không kể người đó là sang hay hèn, thuộc giai cấp quí tộc hay hạ tiện. Đại đức không chê bỏ kẻ nghèo hèn, chỉ cốt thực hiện lòng từ bình đẳng, phát tâm thành tựu trọn vẹn vô lượng công đức cho tất cả mọi người. Đại đức biết rằng, đức Thế Tôn đã từng quở trách hai vị tôn giả Tu Bồ Đề và Đại Ca Diếp, là các bậc A-la-hán mà tâm không bình đẳng(14). Vì kính ngưỡng đức Thế Tôn, đại đức nguyện phát lòng từ vô hạn, làm cho mọi người không thể khởi tâm nghi ngờ hay hủy báng.
Đại đức qua khỏi hào thành, chậm rãi khoan thai bước vào cổng thành, uy nghi nghiêm chỉnh, giữ đúng phép tắc hóa trai.
Lúc bấy giờ, đại đức A Nan, nhân thực hành phép khất thực theo thứ tự, đã đi qua nhà dâm nữ, liền bị mắc phải huyễn thuật của nàng Ma Đăng Già(15). Cô ấy đã dùng thần chú “Tiên Phạm Thiên” do đạo sĩ Ta Tì Ca La(16) trao cho để làm cho đại đức bị mê muội, rồi kéo vào phòng, dựa kề vuốt ve, giới thể của đại đức suýt bị hủy hoại!
Đức Phật biết rõ đại đức A Nan đang bị dâm thuật bức hại, cho nên thọ trai xong, Ngài lập tức trở về tinh xá. Vua Ba Tư Nặc, quí vị đại thần, trưởng giả, cư sĩ cũng đều theo Phật đến tinh xá, mong được nghe giáo pháp thâm yếu.
Bấy giờ đức Thế Tôn, từ trên đỉnh đầu phóng ra ánh sáng báu vô úy(17), trong ánh sáng ấy lại xuất hiện tòa sen báu ngàn cánh, trên đó có hóa thân của Phật ngồi kiết già, tuyên nói thần chú. Đức Phật bảo ngài Văn Thù Sư Lợi đem thần chú ấy đến cứu hộ, tiêu trừ ác chú, dẫn đại đức A Nan cùng nàng Ma Đăng Già đem về chỗ Phật.
Đại đức A Nan trông thấy Phật, vừa đảnh lễ vừa buồn khóc, tự hận mình từ trước đến nay, chỉ chuyên học rộng nhớ nhiều, mà định lực thì hoàn toàn kém cỏi. Giờ đây đại đức thành khẩn cầu xin Phật chỉ dạy cho các pháp xa-ma-tha, tam-ma và thiền-na(18), là những phương tiện tu tập đầu tiên của các đức Như Lai trong mười phương để tiến đến thành tựu đạo quả Vô Thượng Bồ Đề. Lúc ấy còn có vô số chư vị Bồ-tát và đại A-la-hán, Bích-chi Phật từ mười phương đến, cũng mong muốn được nghe, đều ngồi vào chỗ của mình, yên lặng chờ tiếp nhận kim ngôn của Phật.
Đức Phật bảo đại đức A Nan:
– Như Lai cùng với thầy đồng một tổ tông, tình như ruột thịt(19). Lúc thầy mới phát tâm, ở trong giáo pháp của Như Lai, thầy thấy có tướng tốt gì mà xả bỏ ngay được những ân ái sâu nặng của thế gian để đi xuất gia?
Đại đức A Nan bạch Phật:
– Con thấy ba mươi hai tướng của đức Thế Tôn cực kì tốt đẹp, hình thể trong sáng như ngọc lưu li. Con thường suy nghĩ, những tướng tốt này không phải do ái dục sinh ra, vì sao? Tính chất của dâm dục là thô trọng, dơ nhớp, là sự giao hợp tanh hôi, máu mủ xen lộn, thì không thể sinh ra thân tướng vàng kim sáng rỡ, trong sạch, tốt đẹp vi diệu như thế được; cho nên con đã khát ngưỡng mà theo Phật cạo tóc xuất gia.
Phật dạy:
– Lành thay A Nan! Thầy và đại chúng nên biết, tất cả chúng sinh từ vô thỉ đến nay, tiếp nối lưu chuyển trong dòng sinh tử, đều do không nhận biết được thể tính trong sạch sáng suốt của chân tâm thường trú, mà chỉ sống hoàn toàn bằng vọng tưởng; vì vọng tưởng là không chân thật, cho nên mới có luân hồi sinh tử. Hôm nay thầy muốn cầu đạo Vô Thượng Bồ Đề, thấy rõ chân tánh, thì hãy lấy lòng ngay thẳng mà trả lời các câu hỏi của Như Lai. Chư Phật trong mười phương đều chỉ do một con đường để thoát li sinh tử: đó là tâm ngay thẳng. Tâm ngay thẳng thì lời nói ngay thẳng, và cứ như thế mà tiến lên từ địa vị đầu tiên cho đến địa vị cuối cùng, ở chặng giữa không bao giờ có tướng quanh co.
Này A Nan! Bây giờ Như Lai hỏi thầy: Cái lúc thầy thấy ba mươi hai tướng của Như Lai mà phát tâm xuất gia, thì thầy dùng cái gì để thấy, và cái gì ưa thích?
Đại đức A Nan bạch Phật:
– Bạch đức Thế Tôn! Con đã dùng cái tâm và con mắt của con mà ưa thích; do con mắt xem thấy thân tướng thắng diệu của Thế Tôn mà tâm sinh ưa thích, cho nên con đã phát tâm, nguyện xa lìa dòng sinh tử.
Phật dạy đại đức A Nan:
– Như lời thầy vừa nói, sự ưa thích chính thật do tâm và con mắt. Vậy, giả sử không biết tâm và con mắt ở đâu thì không thể dẹp được trần lao(20). Ví như có vị quốc vương bị giặc xâm lăng, phát binh đánh giẹp, thì quân binh ấy cần phải biết giặc ở chỗ nào. Sở dĩ thầy bị lưu chuyển là do lỗi ở tâm và mắt của thầy. Bây giờ Như Lai hỏi thầy: Tâm và mắt của thầy hiện ở chỗ nào?
Đại đức A Nan bạch Phật:
– Bạch đức Thế Tôn! Tất cả mười loài chúng sinh(21) ở trong thế gian đều biết cái tâm là ở bên trong thân thể. Giả sử con nhìn con mắt đẹp như hoa sen xanh của đức Thế Tôn, mắt ấy ở trên mặt đức Thế Tôn; cũng vậy, con mắt thịt của con thì ở trên mặt con. Như thế, cái tâm hiểu biết vốn thật ở trong thân.
Phật hỏi đại đức A Nan:
– Hiện giờ thầy đang ngồi trong giảng đường của Như Lai, thầy hãy xem khu rừng Kì-đà(22) nằm tại đâu?
– Bạch đức Thế Tôn! Ngôi giảng đường cao lớn thanh tịnh này tọa lạc trong vườn Cấp-cô-độc(23), còn rừng Kì-đà hiện thật ở bên ngoài giảng đường.
– A Nan! Ngay ở trong giảng đường này, thầy thấy cái gì trước?
– Bạch đức Thế Tôn! Ở trong giảng đường này, trước tiên con thấy đức Thế Tôn; thứ đến con thấy đại chúng; rồi sau đó nhìn ra ngoài mới thấy vườn rừng.
– Này A Nan! Do cái gì mà thầy thấy được vườn rừng?
– Bạch đức Thế Tôn! Vì các cửa của giảng đường này đều mở rộng, cho nên từ trong giảng đường con thấy được suốt ra ngoài xa.
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn ở giữa đại chúng, đưa cánh tay sắc vàng kim, rờ đầu đại đức A Nan, dạy rằng:
– Có pháp tam-ma-đề(24) tên là “Đại Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm Vương”, gồm đủ muôn hạnh; các đức Như Lai trong mười phương đều lấy pháp môn này làm con đường trang nghiêm vi diệu để vượt thoát sinh tử. Thầy hãy lắng nghe!
Đại đức A Nan liền đảnh lễ, xin nghe lời chỉ dạy từ ái của Phật.
Phật hỏi đại đức A Nan:
– Như thầy vừa nói, thân thầy ở trong giảng đường, do các cửa mở rộng mà thầy thấy được cảnh vườn rừng ở bên ngoài; vậy, liệu có người nào ở trong giảng đường này, không thấy Như Lai mà thấy cảnh trí bên ngoài giảng đường chăng?
Đại đức A Nan thưa:
– Bạch đức Thế Tôn! Ở trong giảng đường không thấy đức Thế Tôn mà lại thấy cảnh trí ở bên ngoài, chuyện đó không thể có được!
– A Nan! Thầy cũng như vậy. Cái tâm sáng tỏ của thầy rõ biết tất cả, nếu hiện giờ cái tâm sáng tỏ ấy quả thật ở trong thân thầy, thì trước hết nó phải biết rõ trong thân; nhưng có người nào trước thấy trong thân rồi sau mới thấy cảnh vật ở ngoài không? Dù không thể thấy được tim, gan, lá lách, bao tử, thì móng tay mọc ra, tóc dài thêm, gân chuyển động, mạch máu nhảy, lẽ ra phải biết rõ, chứ tại sao lại không biết? Mà đã không biết được bên trong, sao lại biết được bên ngoài? Vì vậy mà biết rằng, thầy nói cái tâm hay biết hiện ở trong thân, điều đó không phải lẽ.
Đại đức A Nan cúi đầu bạch Phật:
– Con nghe lời đức Thế Tôn dạy như vậy, mới hiểu ra rằng, cái tâm của con thật ở ngoài thân; vì sao? Ví như ngọn đèn được thắp lên ở trong nhà, thì tất nhiên ngọn đèn ấy trước tiên chiếu sáng ở trong nhà, rồi do từ các cửa mà ánh sáng chiếu ra ngoài sân. Tất cả chúng sinh đều không thấy bên trong thân mà chỉ thấy bên ngoài thân, cũng giống như ngọn đèn để ở ngoài nhà thì không thể chiếu sáng bên trong nhà. Nghĩa ấy thật rõ ràng, chắc không sai lầm, không biết có đúng với nghĩa lí rốt ráo của đức Thế Tôn hay không?
Phật bảo đại đức A Nan:
– Các thầy tì kheo đây vừa theo Như Lai khất thực trong thành Thất-la-phiệt, bây giờ đã trở về rừng Kì-đà. Như Lai đã thọ trai rồi. Thầy hãy xem trong chúng tì kheo này, khi một thầy ăn thì các thầy khác có no được không?
Đại đức A Nan thưa:
– Bạch đức Thế Tôn! Không thể được! Vì sao? Quí vị tì kheo này tuy đều là A-la-hán, nhưng thân xác khác nhau, thì đâu có lí nào một vị ăn mà khiến cho các vị khác được no?
Phật bảo đại đức A Nan:
– Nếu cái tâm thấy biết rõ ràng của Thầy thật ở ngoài thân, thì thân và tâm cách lìa nhau, không liên can gì với nhau; vậy, cái gì tâm biết thì thân không thể biết, cái gì thân biết thì tâm không thể biết. Bây giờ Như Lai đưa cánh tay cho thầy xem. Khi con mắt của thầy thấy thì tâm của thầy có phân biệt để biết rõ đó là cánh tay của Như Lai không?
Đại đức A Nan thưa:
– Bạch đức Thế Tôn, quả thật có như vậy!
Phật bảo đại đức A Nan:
– Nếu thân và tâm cùng thấy biết với nhau một lúc, thì đâu có bảo được là tâm ở ngoài thân! Vậy nên biết, cái tâm hay biết nằm ở ngoài thân, như lời thầy vừa nói, là không đúng.
Đại đức A Nan thưa:
– Bạch đức Thế Tôn! Như lời Thế Tôn dạy, tâm không thấy bên trong, nên không ở trong thân; thân và tâm cùng hay biết một lần, không thể rời nhau, nên tâm không ở ngoài thân. Bây giờ con suy nghĩ thì biết rằng tâm ở tại một chỗ.
Phật hỏi:
– Chỗ ấy là chỗ nào?
Đại đức A Nan thưa:
– Cái tâm hiểu biết đã không biết bên trong mà lại có thể thấy bên ngoài, thì theo con nghĩ, nó nằm núp sau con mắt! Ví như có người lấy chén lưu li úp lên hai con mắt, tuy có vật úp lên nhưng con mắt không bị ngăn ngại, vừa thấy là liền phân biệt biết ngay. Cái tâm hiểu biết tỏ rõ của con không thấy biết được bên trong là vì nó ở nơi con mắt; nhưng nó lại thấy biết rõ ràng cảnh sắc ở bên ngoài, không chướng ngại, là vì nó núp sau con mắt.
Phật bảo đại đức A Nan:
– Như lời thầy vừa nói, tâm núp sau con mắt như con mắt ở sau chén lưu li, vậy khi người kia lấy chén lưu li úp lên hai con mắt, trông thấy núi sông, thì có trông thấy chén lưu li không?
– Bạch đức Thế Tôn, đúng vậy! Khi người kia dùng chén lưu li úp lên hai con mắt, quả thật có thấy cái chén lưu li.
Phật bảo đại đức A Nan:
– Nếu tâm của thầy núp sau con mắt giống như con mắt núp sau chén lưu li, thì khi trông thấy núi sông, tại sao không trông thấy con mắt? Nếu tâm thấy con mắt, thì con mắt đồng như ngoại cảnh, không thể mắt thấy mà tâm biết theo được. Nếu không thấy được con mắt thì sao lại nói rằng cái tâm rõ biết ấy núp sau con mắt –như con mắt núp sau chén lưu li? Vậy nên biết rằng, cái tâm rõ biết núp sau con mắt, giống như con mắt núp sau chén lưu li, như lời thầy vừa nói, là không phải lí.
Đại đức A Nan bạch Phật:
– Thưa đức Thế Tôn! Bây giờ con lại suy nghĩ như vầy: Cái thân của chúng sinh đây, phủ tạng(25) ở trong, khiếu huyệt(26) ở ngoài, có tạng thì tối, có khiếu thì sáng. Con xin thưa lên đức Thế Tôn: Mở mắt thấy sáng gọi là thấy bên ngoài, nhắm mắt thấy tối gọi là thấy bên trong; ý nghĩa ấy như thế nào?
Phật hỏi đại đức A Nan:
– Khi thầy nhắm mắt thấy tối, cái cảnh giới tối ấy là đối với con mắt, hay không đối với con mắt? Nếu đối với con mắt thì cảnh giới tối ấy ở trước con mắt, vậy tại sao lại nói là ở trong thân? Nếu cảnh giới tối ấy quả thật ở trong thân, thì khi ở trong nhà tối, không có ánh sáng mặt trời mặt trăng, không có cả ánh sáng đèn, thì tất cả những gì trong cảnh giới tối của căn nhà đó đều là phủ tạng của thầy phải không? Nếu như cái cảnh giới tối ấy không đối trước con mắt thì đâu có thể gọi được là thấy! Giả sử, thay vì thấy ra ngoài, bây giờ cho là thấy ngược được vào trong, thì khi nhắm mắt thấy cảnh giới tối gọi là thấy bên trong thân, thế tại sao khi mở mắt sáng lại không thấy được mặt mình? Nếu không thấy được mặt mình thì không thể nói là thấy ngược vào trong; còn như thấy được mặt mình, thì cả cái tâm rõ biết và con mắt đều ở nơi hư không, chứ đâu phải ở trong thân! Nếu cả tâm và mắt đều ở nơi hư không thì tất nhiên chúng không phải là thân thể của thầy; cũng giống như hiện giờ Như Lai thấy mặt thầy, Như Lai đâu phải là thân thể của thầy? Và như thế, nếu con mắt của thầy đã biết thì đáng lí cái thân của thầy phải không biết; chứ nếu như thầy chấp cho rằng, thân và mắt, cả hai đều biết, tức là có hai cái biết, thế thì chỉ một cái thân của thầy mà sẽ thành hai đức Phật hay sao? Vậy nên biết rằng, thầy nói thấy tối là thấy bên trong thân, điều đó không đúng.
Đánh Giá
Chưa có đánh giá nào.