TỲ NẠI DA

BÀI TỰA TỲ-NẠI-DA A-Nan nói kinh vâng theo Thánh chỉ, năm trăm La-hán cùng nhau giám định, phân làm mười hai bộ, đầy đủ lời dạy trong bốn mươi chín năm của Thế Tôn. Nay mười hai bộ ấy được viết lại thành bốn bộ A-Hàm, A-tỳ-đàm, Tỳ-nại-da, đầy đủ ba…

—— Trích đoạn TỲ NẠI DA

 

Giới thiệu chung

Được xếp vào hàng ngũ những tác phẩm triết học kinh điển, văn bản này mở ra những góc nhìn sâu sắc về đạo lý nhân quả và sự vận hành của vũ trụ theo thế giới quan phương Đông. Hoàn cảnh ra đời của tài liệu gắn liền với mục đích truyền bá thông điệp về lòng từ bi, khích lệ con người quay về nương tựa vào sức mạnh của tự tâm. Nội dung cốt lõi truyền tải một phương thức sống tỉnh thức, hướng dẫn chi tiết cách đối trị với những cảm xúc tiêu cực và những cám dỗ thường nhật. Thông qua cách lập luận logic và chặt chẽ, tác phẩm đã bẻ gãy những bám víu sai lầm, gọt rửa đi bao nỗi phiền muộn đang trói buộc tinh thần. Về mặt ý nghĩa, nó đóng vai trò như dòng nước thanh lương, nuôi dưỡng những phẩm chất cao quý và dọn đường cho trí tuệ bừng sáng rực rỡ. Đối với lịch sử tôn giáo, đây là nền tảng vững chắc để xây dựng các hệ phái tư tưởng đa dạng, kết nối con người với những giá trị đạo đức phổ quát. Qua nhiều thế hệ, sự tôn kính dành cho tác phẩm chưa bao giờ suy giảm, chứng tỏ sức sống mãnh liệt của một chân lý thực thụ. Tổng quan, đây là cẩm nang tâm linh không thể thiếu, dẫn dắt hành giả tới bến bờ của sự giải thoát rốt ráo.

Nội dung kinh

BÀI TỰA TỲ-NẠI-DA

A-Nan nói kinh vâng theo Thánh chỉ, năm trăm La-hán cùng nhau giám định, phân làm mười hai bộ, đầy đủ lời dạy trong bốn mươi chín năm của Thế Tôn. Nay mười hai bộ ấy được viết lại thành bốn bộ A-Hàm, A-tỳ-đàm, Tỳ-nại-da, đầy đủ ba tạng.

Người học Phật ở Thiên Trúc tôn trọng, đọc tụng, học hỏi luôn và an trí nơi cao quý.

Những Sa-môn bậc cao thì thông suốt ba tạng.

Những

Sa-môn bậc vừa và thấp thì thông một hoặc hai tạng mà thôi.

Kinh được lưu hành đến đất Tần, có loại tự đến, là kinh do Sa-môn Thiên Trúc đem sang và tạo thành mười hai bộ, trong đó bộ Tỳ Viết La là nhiều nhất.

Do ở nước này có đạo học của Lão, Trang lưu hành, tương tợ với kinh Phương đẳng, cho nên dân chúng ở đây dễ thực hành theo kinh Phật.

Ðạo-An tôi ân hận ba tạng không đủ và cho đó là sự thiếu sót.

Năm

Nhâm Ngọ, Cưu-ma-la Phật-đề mang A-tỳ-đàm sao và Tứ A-hàm sao đến Trường An. Với lòng khát ngưỡng đã lâu, ngay trong mùa Hạ ấy đã phiên dịch bộ A-tỳ-đàm sao, gồm bốn quyển. Mùa Ðông lại phiên dịch bộ Tứ A-hàm sao, gồm bốn quyển.

Lại nữa, Luật sư ở nước Kế-Tân – bạn của Phật-đề – tên là Da-xá tụng luật rất thông suốt. Ðạo An tôi liền mời vị ấy dịch ra. Phật-đề đọc tiếng Phạm, Phật-niệm dịch, Ðàm-cảnh ghi chép. Ngày 12 tháng 1 bắt đầu, đến ngày 25 tháng 3 hoàn tất, gồm bốn quyển, tương đương với bản giới kinh mà Ðàm-ma-thi dịch khi xưa. Hai bản rất phù hợp với nhau. Trong 260 việc, có việc nào còn nghi nghờ thì chúng tôi đều hỏi kỹ càng. Xin xét rõ những điểm khác nhau chủ yếu thì mới hiểu rõ được. Trong hai năm ở nước Tần đã đầy đủ ba tạng.

Thế

Tôn chế giới ắt có nguyên nhân của nó. Nhóm sáu Tỳ-kheo sanh trong dòng quý tộc, vịn rồng, dựa phượng, tuy thích xuất gia nhưng chưa dứt trừ tâm tánh của người quyền quý, thường làm việc sai trái nên giới này phát sanh.

Một người đắc đạo, hai người sanh thiên, hai người làm rồng, một người đọa địa ngục vô gián. Ỷ vào sự quý phái, không biết kềm chế nên tự đánh mất sự thân thích ấy. Giả sử họ là con nhà trung lưu, gặp Phật xuất gia thì tuy không thể ngồi một lần là thành đạo, nhưng chắc không đến nỗi bị khốn khổ như vậy.

Khi

Phật chưa chế giới, con người vi phạm những việc ô uế rất nhiều. Sau khi đã chế giới thì tình hình thay đổi tốt đẹp hơn. Việc trì luật của người Thiên Trúc không hoàn toàn thông suốt. Chỉ có người nào nắm đủ mười hai pháp và định lực kiên cường thì mới được khai thị và trao truyền cho. Khi trao truyền, người ấy được dặn đi dặn lại rằng: “Thầy phải thực hành, không được chỉ biết suông”. Lời ấy hết sức thiết thật.

Từ nay về sau, nước Tần có bộ luật này rồi, xin những người cùng chí hướng với tôi cẩn thận trong việc trao truyền. Xin chớ truyền cho những người chưa đủ năm hạ và chẳng trì luật.

Quyển thứ nhất

Có ba loại giới là:

– Giới Vô thượng giới.

– Giới Vô thượng ý.

– Giới Vô thượng trí.

Thế nào là giới Vô thượng giới? – Ở đây Tỳ-kheo trì giới dùng giới giải thoát để tự trang sức, tu tập thuần thục, lo sợ với cả những việc nhỏ, tương ưng với giới ở trong giới. Ðó là giới Vô thượng giới.

Thế nào là giới Vô thượng ý? – Ở đây Tỳ-kheo trừ bỏ dâm dục, đạt đến bốn thiền, chánh định tư duy. Ðó là giới Vô thượng ý.

Thế nào là giới Vô thượng trí? – Ở đây Tỳ-kheo biết đây là khổ đế, biết đây là nguyên nhân của khổ, biết đây là nơi chấm dứt khổ, biết đây là con đường chấm dứt khổ. Ðó là giới Vô thượng trí.

Do ba loại giới này mà có bậc Thuận chơn và hằng sa chư Phật quá khứ, vị lai, hiện tại đã xuất hiện. Ðó là kho tàng, vật báu, sự bí yếu của Phật để giáo huấn ba thừa: Thanh văn, Duyên giác và Chánh đẳng giác.

Phật Thế

Tôn ở tại vườn Thạch Ðài, cạnh sông Di Hầu, thuộc thành Bỉ-thế-la (Tần dịch Quảng Bác). Cách thành Bỉ-thế-la không xa có dòng họ Ca-lan-đà-kiềm-ba sanh sống. Gia đình này có người con tên Tu-đạt-đa. Gia đình ấy giàu có vô hạn, ruộng vườn rất nhiều, nhà cửa rộng rãi, voi, ngựa, lạc đà, tiền, thóc lúa, châu báu, vàng bạc, trân châu, lưu ly, ngọc báu, hổ phách, mã não, xa cừ, san hô… nhiều vô số.

Tu-đạt-đa xả bỏ gia đình giàu có ấy, đến gặp Như Lai nghe pháp, đạt được niềm an lạc và tin tưởng. Nhờ lòng tin và sự an lạc này, vị ấy đạt được chánh định, liền cạo bỏ râu tóc, xuất gia học đạo. Vị ấy cùng vô số Tỳ-kheo đến vườn Trúc, thuộc thành Câu-tát-la để kiết hạ.

Bấy giờ, gặp lúc đói kém, thóc lúa đắt đỏ, cây lúa bị sương và mưa đá làm chết gần hết. Số ít còn sống sót lại bị sâu ăn hết. Vì thế khất thực rất khó được.

Lúc ấy,

Tu-đạt-đa, con của Ca-lan-đà suy nghĩ: “Nay gặp lúc đói kém, thóc lúa đắt đỏ, cây lúa bị mưa đá làm chết gần hết. Số ít còn sống sót lại bị sâu ăn.

Vì thế khất thực khó được”. Suy nghĩ xong, Tu-đạt-đa bảo với các Tỳ-kheo rằng:

– Các vị hãy nghe đây! Tôi có một gia đình thân quen ở nước Bỉ-thế-la, giàu có vô hạn; tiền của, ruộng vườn rất nhiều; châu báu và các đồ đạc khác rất sung túc. Chúng ta hãy cùng nhau đến đó để độ cho người thân làm phước, mà các Tỳ-kheo cũng được yên ổn. Ðã đúng thời, chúng ta nên đến nước Bỉ-thế-la.

Khi đã đến nước ấy, các Tỳ-kheo sẽ được cúng dường đồ ăn uống, thuốc men và y áo.

Lúc ấy,

Tu-đạt-đa – con của Ca-lan-đà – kiết hạ an cư ở Câu-tát-la. Sau ba tháng kiết hạ an cư, các vị ấy may vá y phục. Vào ngày y phục đã được chuẩn bị xong, Tu-đạt-đa liền đắp y, mang bát, dẫn đại chúng đi dần đến Bỉ-thế-la và dừng chân ở vườn Thạch-đài, cạnh sông Di Hầu, thuộc nước Bỉ-thế-la để tìm thức ăn và chia thức ăn cho các Tỳ-kheo.

Khi đến giờ, Tu-đạt-đa – con của Ca-lan-đà – đắp y mang bát đến nhà người thân ở nước Bỉ-thế-la khất thực. Sau khi khất thực xong, vị ấy vội vàng ra đi.

Lúc ấy, nàng hầu của gia đình Ca-lan-đà trông thấy Tu-đạt-đa, con của Ca-lan-đà, đi vào nhà người thân và vội vàng trở ra, liền đến gặp mẹ của Ca-lan-đà, quỳ xuống thưa rằng:

– Hồi nãy quý tử Tu-đạt-đa, con của Ca-lan-đà, đi vào nhà người thân và vội vàng trở ra, không biết vị ấy có bệnh tật hay buồn rầu gì không. Hay là không thích phạm hạnh và đã phạm giới, muốn bỏ đạo hoàn tục?

Nghe xong, mẹ Tu-đạt-đa rất vui mừng, không thể kềm chế được, liền đến chỗ Tu-đạt-đa, bảo với Tu-đạt-đa rằng:

– Thân thể ông có được khỏe không? Có ý tưởng gì khác không? Có ý phạm phạm-hạnh không? Có ý muốn phạm giới, bỏ đạo hoàn tục không? Nếu có tâm ấy thì hãy mau trở về. Này Tu-đạt-đa! Hãy xả giới hoàn tục, mặc sức bố thí và tạo các công đức. Vì sao vậy? – Ở trong chúng của Phật thì giữ gìn giới luật rất khó, học đạo cũng rất khó.

Nghe vậy, Tu-đạt-đa liền bảo với mẹ rằng:

– Tôi không có tật bệnh, cũng không có ý tưởng gì khác, không có phạm phạm-hạnh, ý không muốn phạm giới, bỏ đạo hoàn tục.

Người mẹ lại nói:

–

Tu-đạt-đa! Ông nên biết rằng: vợ của ông trước đây xinh đẹp không ai sánh bằng. Nếu không muốn bỏ đạo hoàn tục thì hãy để lại hạt giống để kế tục, làm phát triển dòng  tộc của ta. Một mai nếu không có người kế tục thì tiền của, châu báu sẽ bị vua Câu-tát-la đoạt hết.

Tu-đạt-đa đáp:

– Nếu để tôi tiếp tục tu đạo thì tôi có thể làm việc ấy.

Lúc ấy, mẹ Tu-đạt-đa bảo với vợ Tu-đạt-đa rằng:

– Sau nguyệt kỳ ba ngày, hãy mặc y phục khi mới cưới, trang điểm cho đẹp rồi đến báo ta.

Theo lời bà ấy bảo, sau nguyệt kỳ ba ngày, vợ Tu-đạt-đa mặc y phục mà trước đây chồng mình thích, đến chỗ mẹ của Tu-đạt-đa và thưa rằng:

– Nay chính là ngày thứ ba sau nguyệt kỳ.

Sau đó, mẹ Tu-đạt-đa dẫn người vợ ấy đến chỗ Tu-đạt-đa bảo với Tu-đạt-đa rằng:

– Nên biết người vợ này xinh đẹp không ai sánh bằng. Hãy để lại hạt giống nối dõi, đừng để dòng họ ta bị tuyệt tự, tiền của châu báu bị vua Câu-tát-la đoạt hết.

Nói xong, bà ta để người vợ ở lại và lập tức tránh đi.

Lúc ấy,

Tu-đạt-đa dẫn người vợ đến chỗ kín và làm việc bất tịnh. Trong chốc lát mà họ làm đến ba lần.

Lúc đó,

Ðế Thích giáng thần vào thai ấy. Sau tám chín tháng, vợ Tu-đạt-đa sanh con trai, mặt mày xinh đẹp không ai sánh bằng. Vì trước đây đã nói là để kế tục dòng giống nên người mẹ liền đặt tên cậu ấy là Tục-chủng (kế tục dòng giống) Sau khi làm việc xấu xa ấy, Tu-đạt-đa xấu hổ và rất nhục nhã đối với người khác.

Lúc ấy, Tu-đạt-đa cùng các Tỳ-kheo đồng học kiết hạ an cư xong, mọi người đến thăm hỏi nhau:

– Tâm ý thầy có ổn định không? Sức khỏe có dồi dào không? Trong khi an cư, đồ cúng dường có đầy đủ không? Có phải đi khất thực không? Có bệnh tật và có ý tưởng gì khác không?

Tu-đạt-đa đáp:

– Các thầy nên biêt, tâm ý tôi vẫn ổn định. Trong khi kiết hạ vẫn được no đủ.

Cũng không phải ra ngoài khất thực. Không có bệnh tật nhưng lại có ý tưởng khác.

Các

Tỳ-kheo đáp:

– Nếu thầy có tâm ổn định an lạc, trong khi kiết hạ hoàn toàn no đủ, lại không có bệnh tật thì vì sao lại có ý tưởng khác?

Tu-đạt-đa liền đem việc mình đã vi phạm trước đây kể hết cho các Tỳ-kheo.

Lập tức, các Tỳ-kheo hết sức quở trách Tu-đạt-đa:

– Thế

Tôn đã dùng vô số phương tiện nói sự xấu xa của dâm dục, của việc hướng về dâm dục, niệm dâm dục, ý dâm dục mạnh mẽ. Thế Tôn đã nói về sự xấu xa của dâm dục, của việc hướng về dâm dục, niệm dâm dục, ý dâm mạnh mẽ.

Sau khi liên tục quở trách, các Tỳ-kheo liền đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ sát đất, ngồi qua một phía, đem việc đã vi phạm bạch đầy đủ với Thế Tôn. Phật biết nhưng vẫn hỏi Tu-đạt-đa:

– Có thật ông đã phạm việc ấy không?

Ðáp:

– Thật sự con có phạm, thưa Thế Tôn.

Thế Tôn nói:

– Ta đã dùng vô số phương tiện nói với người ngu về sự xấu xa của dâm dục, của việc hướng về dâm dục, niệm dâm dục, ý dâm mạnh mẽ. Sự xấu xa của dâm dục là như vậy.

Phật dùng nhiều phương tiện kiết giới cho Sa-môn. Ngài quán thấy mười đức của Tỳ-kheo khi họ giữ giới. Mười đức ấy là gì?

1- Giữ gìn, nuôi dưỡng đạo đức và giúp đại chúng hành đạo.

2- Làm cho người chưa tin giới phát sanh lòng tin.

3-

Thường làm cho người biết thẹn, thức tỉnh về lỗi lầm của mình.

4- Làm cho người mắc tà kiến đi vào đường chánh.

5- Làm cho người đã chơn chánh càng chơn chánh hơn.

6- Hiện đời học đạo, diệt hết phiền não và làm cho tương lai không còn kiết sử.

7- Phiền não ở tương lai bị diệt trừ, không còn phát sanh.

8- Tích tụ các hạnh lành.

9- Không đánh mất phạm hạnh.

10- Làm cho phạm hạnh tồn tại lâu dài.

Sa-môn đều phải biết điều ấy.

Nhân sự việc ấy, Thế Tôn liền tập hợp chúng Tăng, kiết giới này:

–

Tỳ-kheo nào phạm giới, không xả giới, giới sút kém, không tự hối cải, làm việc bất tịnh, phạm pháp dâm dục thì Tỳ-kheo ấy phạm Ba-la-di bồ-đề-a-tát-bà-tứ.

Phật ở tại vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc.

Lúc ấy có Tỳ-kheo khác kiết hạ an cư trong một khu vườn cách thành Câu-tát-la không xa. Gần khu vườn ấy có một con vượn cái sinh sống. Con vượn cái thường đến chỗ thầy Tỳ-kheo, thầy Tỳ-kheo thường cho con vượn ấy ăn. Vì thế, con vượn không sợ Tỳ-kheo ấy và cùng nhau làm hạnh bất tịnh.

Trong đại chúng Tỳ-kheo có người đồng học với Tỳ-kheo ấy, cũng kiết hạ an cư ở nước Câu-tát-la. Sau khi đã mãn hạ, vào ngày y phục đã được may vá hoàn tất, họ đắp y, mang bát đến chỗ Tỳ-kheo nọ, bảo với Tỳ-kheo ấy rằng:

– Từ ngày nhập hạ đến giờ, thầy có bệnh hoạn gì không? Có đi ra ngoài khất thực không? Có ý tưởng gì khác không?

Tỳ-kheo ấy đáp:

– Thưa các vị, trong khi nhập hạ tôi không bị bệnh hoạn, cũng không có loạn tưởng.

Lúc ấy, con vượn từ bên ngoài đi vào, đến thẳng chỗ Tỳ-kheo ấy ngồi ở phía trước, ngó chăm chú Tỳ-kheo nọ. Thấy Tỳ-kheo ấy quay mặt đi, nó lại ngó các Tỳ-kheo khác rồi quay lại ngó Tỳ-kheo ấy, rồi đưa lưng hướng về Tỳ-kheo đó. Tỳ-kheo ấy xấu hổ với các Tỳ-kheo nên không theo con vượn, cũng không liếc nhìn nó.

Thấy

Tỳ-kheo ấy không nhìn mình, con vượn phát sanh ý ác, quay mình nắm kéo, cào cấu làm đầu mặt thầy Tỳ-kheo bị thương rồi bỏ đi.

Các Tỳ-kheo lớn tuổi bảo

Tỳ-kheo ấy  rằng:

– Lúc nãy con vượn đến đây, trước tiên đưa mắt nhìn thầy, rồi quay lại nhìn chúng tôi, rồi lập tức quay lưng về phía thầy. Thấy thầy không nói, không nhìn nó liền nổi giận níu kéo, cào cấu làm đầu mặt thầy bị thương rồi bỏ đi. Như thế là thế nào?

Các Tỳ-kheo gạn hỏi Tỳ-kheo ấy nhiều lần. Bị các Tỳ-kheo gạn hỏi mãi, Tỳ-kheo ấy liền tự thú. Các Tỳ-kheo nói:

– Thế

Tôn đã dùng vô số phương tiện nói về sự xấu xa của dâm dục, của sự hướng về dâm dục, niệm dâm, sự thiêu đốt của dâm, sự dơ bẩn của dâm, vì sao thầy không chịu quán sát sự dâm dục này, lại đi làm việc ác đó?

Sau nhiều lần quở trách Tỳ-kheo ấy, các Tỳ-kheo liền đến chỗ Phật, đảnh lễ sát đất rồi ngồi qua một phía, bạch với Phật tất cả những việc mà họ vừa thấy, nghe.

Nghe xong, Phật bảo Tỳ-kheo ấy:

– Có thật vậy không?

Tỳ-kheo ấy xấu hổ, mặt mày thất sắc như dính bụi đất, quỳ gối phải sát đất, sửa y, bày vai phải, chấp tay bạch Thế Tôn:

– Ðúng vậy, thưa Thế Tôn!

Thế Tôn bảo Tỳ-kheo ấy:

– Ta há đã không dùng nhiều phương tiện nói cho người ngu biết sự xấu xa của dâm dục, của sự hướng dâm, niệm dâm, sự thiêu đốt của dâm. Ta đã nói tất cả lỗi lầm của dâm dục.

Sau khi dùng vô số phương tiện nói về dâm dục, nhân việc ấy, Phật tập hợp chúng Tăng, quán sát mười đức phát sanh khi Tỳ-kheo giữ giới hạnh, cho đến phạm hạnh tồn tại lâu dài. Kế đó, Phật kiết giới cho các Tỳ-kheo:

–

Tỳ-kheo nào phạm giới, tâm dâm dục phát sanh, không xả giới, giới sút kém, không tự sám hối mà làm hạnh bất tịnh, cho đến cùng loài súc sanh thì bị vất bỏ, không còn ở trong hàng ngũ Tỳ-kheo.

Thế nào là giới? – Hai trăm năm mươi giới mà Tỳ-kheo phải giữ và giới Vô thượng giới gọi là giới trong giới.

Thế nào là không xả giới?

– Không xả giới là xả giới khi ngu si, loạn ý, khổ não.

– Hướng về người câm điếc xả giới, là không xả giới.

– Xả giới với người không cùng ngôn ngữ là không xả giới.

– Nếu xả giới một mình cũng không thành xả giới.

– Ðối trước tháp Phật, tháp Sa-môn xả giới, cũng không thành xả giới.

Nếu lìa bỏ, không y chỉ Phật, Hòa thượng, bạn của Hòa thượng, A-xà-lê, bạn A-xà-lê và nói với các Tỳ-kheo rằng: “Tôi không sống ở trong Phật pháp, tôi đã từ bỏ không hành đạo nữa”. Các Tỳ-kheo hỏi: “Thầy không hành đạo nữa sao?”.

Tỳ-kheo ấy nói: “Không hành đạo nữa”. Thì đó là xả giới.

Hành dâm ba chỗ của người nữ thì bị vứt bỏ. Ba chỗ ấy là:

– Tiếp xúc với đường sanh sản và sự vứt bỏ thứ nhất.

– Tiếp xúc đường đại tiện là sự vứt bỏ thứ hai.

– Tiếp xúc miệng là sự vứt bỏ thứ ba.

Đọc toàn văn →

Đánh Giá

Chưa có đánh giá nào.

Thêm đánh giá

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *