TỲ NẠI DA · Phần 2/4
TỲ NẠI DA (phần 2)
Nung căn nhà gốm xong, ông ấy đi du hành, khất thực trong sáu mươi ngày để có đồ đãi khi mời các Tỳ-kheo tập hợp vào nhà mới.
Thấy việc ấy, Phật biết nhưng vẫn bảo A-Nan:
– Ông hãy đem y đến đây. Ta muốn đến nơi ấy xem xét.
Lúc ấy,
Thế Tôn dẫn A-Nan đến căn nhà gốm của Tỳ-kheo Ðạt-nị-ca. Trông thấy căn nhà có màu đỏ rực rỡ như lửa, Thế Tôn biết nhưng vẫn hỏi A-Nan:
– Vật gì đỏ như đống lửa thế kia?
Tôn giả
A-Nan liền bạch với Thế Tôn đầy đủ việc ấy. Thế Tôn bảo:
– A-Nan!
Ông hãy đến phá căn nhà gốm ấy. Vì sao vậy? – Ðể người đời sau thấy ở trong pháp của Ta, lúc đầu không có ai làm nhà gốm.
A-Nan liền đến phá căn nhà gốm ấy.
Sau hai tháng du hành, Tỳ-kheo Ðạt-nị trở về thành La-duyệt. Trông thấy căn nhà gốm bị phá, Ðạt-nị liền nổi giận, hỏi Tỳ-kheo ở cạnh đó:
– Ai đến phá căn nhà gốm này vậy?
Ðáp:
– Thế
Tôn đến phá.
Ðạt-nị nói:
– Nếu đúng là Thế Tôn phá thì đành chịu vậy.
Phật ở tại vườn Ni-câu-đà, thuộc Ca-duy-la-việt, nước Thích-ky-sấu.
Khi ấy dòng họ Thích ở Ca-duy-la-việt vừa mới cất tòa nhà lớn. Tòa nhà ấy vừa cất xong không bao lâu, có kích thước không sai pháp, cửa hướng về phía Ðông.
Nghe tin Phật đã đến vườn Ni-câu-đà, những người dòng họ Thích ở Ca-duy-la-việt liền suy nghĩ: “Chúng ta vừa cất xong tòa nhà này cách đây không lâu, kích thước không sai pháp, cửa hướng về phía Ðông, chưa có người ở. Sa-môn, Bà-la-môn và những người dòng họ Thích phải thỉnh Phật và chúng Tăng vào nhà đó trước, cúng dường đồ ăn uống và giữ Phật cùng Tăng nghỉ lại đó một đêm để được phước đức, lợi ích lớn”.
Khi ấy, những người dòng họ Thích ra cửa phía Ðông của thành Ca-tỳ-la-việt, đến vườn Ni-câu-đà. Lúc đó Thế Tôn đang thuyết pháp cho vô số người đang vây quanh nghe. Trông thấy Thế Tôn đang ngồi dưới gốc cây, xinh đẹp không ai bằng, thân như núi vàng, là vị thầy đứng đầu trời người, đủ ba mươi hai tướng trang nghiêm thân, những người dòng họ Thích đều xuống xe, xuống ngựa, tiến đến chỗ Phật đảnh lễ sát đất rồi ngồi qua một phía.
Thế Tôn thuyết pháp cho những người dòng họ Thích, làm cho họ hoan hỷ. Sau khi thuyết pháp xong, Thế Tôn im lặng. Những người dòng họ Thích đứng dậy, sửa áo bày vai phải, quỳ gối phải sát đất, chấp tay bạch Thế Tôn rằng:
– Bạch
Thế Tôn! Chúng con đã xây một tòa nhà lớn ở Ca-duy-la-việt. Tòa nhà ấy vừa xây xong không bao lâu, có kích thước hợp pháp, cửa hướng về phương Ðông nhưng chưa có người ở. Sa-môn, Bà-la-môn và những người dòng họ Thích cúi xin Thế Tôn dẫn các Tỳ-kheo đến đó xem để chúng con được lợi ích lớn.
Thế Tôn im lặng chấp nhận.
Thấy Thế
Tôn đã im lặng chấp nhận, những người họ Thích liền rời khỏi chỗ ngồi, đảnh lễ sát đất, nhiễu Phật ba vòng rồi đi đến tòa nhà mới cất, quét dọn, trải tọa cụ, dùng các thứ như đệm dệt bằng lông, thảm lông, vải bông – được trang sức bằng lông chim – trải lên đất, múc nước trong đổ đầy bình, lấy vải bông tẩm dầu sạch và tốt làm đuốc, đốt ngọn đèn rất sáng… Những việc cúng dường như vậy không thể kể hết.
Họ lại đến chỗ Thế Tôn đảnh lễ, chấp tay bạch Thế Tôn rằng:
– Ðồ cúng dường đã được sắp đặt xong. Ðã đến giờ, xin Thế Tôn thọ nhận.
Sau khi thọ thực xong, Thế Tôn đắp y mang bát cùng chúng Tăng đến tòa nhà mới cất, rửa chân ở bên ngoài rồi vào trong giảng đường, quan sát khắp giảng đường và đến ngồi trên tòa cao với dáng vẻ rất vui tươi.
Chúng
Tăng cũng rửa chân rồi vào trong giảng đường, tuần tự ngồi ở vách phía Tây và xoay mặt về phía Ðông.
Lúc ấy, những người dòng họ Thích cũng rửa chân ở bên ngoài, vào giảng đường, ngồi ở vách tường phía Ðông và xoay mặt về phía Tây.
Ngay đêm ấy, khi thấy hội chúng đã ổn định, đức Thế Tôn liền nói pháp cho những người dòng họ Thích. Sau khi dùng vô số phương tiện để nói pháp, Thế Tôn bảo:
– Ðã quá nửa đêm, các vị hãy nghỉ ngơi.
Những người họ Thích liền rời khỏi chỗ ngồi, lạy Phật rồi ra đi.
Khi những người họ Thích đi được một lát, Thế Tôn quán sát tâm các Tỳ-kheo và thấy cần phải bảo họ hãy giữ yên tĩnh, hãy giữ yên tĩnh để nhập vào các loại tam muội sâu xa vi diệu.
Thế Tôn bảo Mục-kiền-liên:
– Hãy bảo các Tỳ-kheo giữ yên tĩnh để Ta nhập vào các loại tam muội sâu xa vi diệu. Thầy hãy nói pháp cho các Tỳ-kheo. Ta đang bị đau lưng, không thể nói pháp.
Vâng lời
Phật dạy, Mục-kiền-liên nói:
– Hãy giữ yên lặng để tĩnh tâm.
Lúc ấy,
Thế Tôn xếp tư y thượng, trải lên giường, gối đầu trên Tăng-già-lê, nằm nghiêng qua hông phải như sư tử, hai đầu gối chồng lên nhau, chân duỗi thẳng, chú tâm nghĩ đến ánh sáng cho đến khi nào trời sáng.
Tôn giả
Mục-kiền-liên bảo các Tỳ-kheo:
– Tôi sẽ giảng lại cho các thầy nghe pháp mà trước đây tôi đã từng được nghe Thế Tôn giảng dạy. Ðó là pháp không nghe và nghe, như là việc thực hành của Tỳ-kheo không nghe pháp; hặc việc có thể thực hành của Tỳ-kheo có nghe pháp.
Tỳ-kheo không nghe pháp thực hành như thế nào?
–
Tỳ-kheo nào nếu mắt thấy sắc, suy nghĩ về sắc thì liền dính mắc trong sắc, không nghĩ cách thoát ly sắc, ý không chuyên nhất, không chứng được trí tuệ giải thoát và như thật giải thoát, không hiểu rõ nơi phát sanh ra các pháp ác nên chúng tồn tại không bị diệt, không thể đắc đượïc quả Hữu-dư và Vô-dư Niết-bàn. Ðó là việc niệm sắc, dính mắc sắc của Tỳ-kheo không nghe pháp.
Khi tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân xúc chạm sự trơn láng, tâm xúc chạm pháp, hoặc nghĩ về các sắc pháp… thì bị dính mắc pháp, không nghĩ cách thoát ly sắc pháp, ý không chuyên nhất, không chứng được như thật giải thoát và trí tuệ giải thoát, không hiểu như thật nơi phát sanh các pháp ác, nên chúng không được diệt trừ, không đạt được Niết-bàn Hữu-dư và Vô-dư. Ðó là việc dính mắc vào các pháp của Tỳ-kheo không nghe pháp.
Tỳ-kheo không nghe pháp mà thực hành như vậy sẽ bị ma tìm được sơ hở và làm hư hoại tâm ý. Nếu mắt thấy ma thì ma liền thấy được lỗi của mắt. Tai, mũi, lưỡi, thân, ý thấy ma thì liền bị ma làm hại.
Này các
Tỳ-kheo! Giống như có rừng tre, cỏ lau khô, nếu đập nát ra, dồn đống lại, rồi lấy lửa đốt bốn phía thì có thể cháy được không? – Cũng vậy, Tỳ-kheo ấy nếu mắt thấy ma thì liền bị ma phát hiện thấy lỗi của mắt và làm hư hoại tâm ý. Tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng bị ma làm hại như vậy.
Tỳ-kheo này bị sắc chế phục, không thể chế phục sắc, âm thanh, hương thơm, vị, sự trơn láng và pháp. Tỳ-kheo ấy bị pháp ấy chế phục, không thể chế phục pháp. Do bị sắc chế phục, bị pháp chế phục nên không thể chế phục pháp ác.
Do không thể chế phục pháp ác nên làm các kiết sử phát sanh và lớn mạnh, phải chịu khổ sanh – già – bệnh – chết ở đời sau.
Ðó là sự thực hành của Tỳ-kheo không nghe pháp.
Sự thực hành của Tỳ-kheo có nghe pháp xảy ra thế nào?
–
Tỳ-kheo này mắt thấy sắc, nghĩ về sắc, không đắm trước sắc. Không nghĩ đến sắc thì sắc lìa khỏi tâm, ý được chuyên nhất, được ý giải thoát (chỉ) và trí tuệ giải thoát (quán), biết như thật nơi phát sanh của các pháp ác nên chúng bị diệt mất, không phát sanh, đạt được Niết-bàn Hữu-dư và Vô-dư. Ðó là sự thực hành của Tỳ-kheo có nghe pháp.
Mắt thấy sắc không bị đắm trước, không bị dính mắc vào âm thanh, hương thơm, vị ngon, sự trơn láng và pháp; nghĩ về sắc pháp không bị dính mắc; không nghĩ về sắc pháp thì lìa sắc pháp, tâm được chuyên nhất, đạt được ý giải thoát, trí tuệ giải thoát, biết như thật nơi pháp ác phát sanh nên chúng liền diệt mất, không phát sanh, đạt được Niết-bàn Hữu-dư và Vô dư. Ðó là sự thực hành của Tỳ-kheo có nghe pháp.
Tỳ-kheo nào thực hành như vậy thì ở bất cứ nơi đâu cũng không bị ma khống chế và không hủy hoại được.
Giống như có người cất nhà bằng đá, lại lấy bùn trét khắp bốn phía, nếu cầm ngọn đuốc để thiêu đốt thì không thể thiêu đốt được. Cũng vậy, Tỳ-kheo này ở bất cứ nơi nào, khi mắt thấy ma, ma không thể làm hại. Tai, mũi, lưỡi, thân, ý tiếp xúc với ma cũng không bị ma làm hại. Tỳ-kheo này có thể chế phục sắc, không bị sắc chế phục. Cũng vậy, đối với âm thanh, hương thơm, vị ngon, sự trơn láng và pháp, Tỳ-kheo này có thể chế phục pháp, không bị pháp chế phục, không tạo ra pháp ác ở đời sau, các kiết sử bị tan rã, sanh lão bệnh tử bị dứt trừ. Ðó là sự thực hành của Tỳ-kheo có nghe pháp.
Lúc ấy, từ trong trạng thái nằm, Thế Tôn nhổm dậy, ngồi kiết-già, lưng đã bớt đau.
Thế Tôn bảo tôn giả Mục-kiền-liên:
– Vừa rồi ông đã nói cho các Tỳ-kheo nghe pháp không nghe và nghe, phải không?
Ðáp:
– Ðúng vậy, thưa Thế Tôn.
Thế Tôn khen Mục-kiền-liên:
– Lành thay! Lành thay Mục-liên! Ông phải thường thuyết pháp cho các Tỳ-kheo, đừng để gián đoạn.
Lúc ấy
Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
– Hãy thực hành và tụng đọc pháp không nghe và nghe này, và phải diễn giảng cho chư thiên và người đời nghe ý nghĩa của pháp ấy.
Vì Tỳ-kheo Ðạt-nị, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
– Các trưởng giả họ Thích còn cất giảng đường có kích thước hợp pháp, cửa chính quay về hướng Ðông. Người đời còn vậy, huống là Ðạt-nị, ở trong pháp của Ta không được phép mà lại cất nhà bằng gốm.
Do việc ấy và muốn có đầy đủ mười công đức, Thế Tôn liền kiết giới cho các Sa-môn:
–
Tỳ-kheo nào tự ý làm nhà gốm như Ðạt-nị-ca thì phạm Tăng-già-bà-thi-sa. Tự làm, tự làm chủ thì phải đúng lượng. Hạn lượng của nhà ấy là: Dài mười hai khuỷu tay (một khuỷu tay bằng một gang tay của Như Lai). Rộng bảy khuỷu tay. Khi làm, cần phải mời Tỳ-kheo biết pháp đến. Tỳ-kheo biết pháp cần phải dùng pháp để đo lường, không được dùng dâm, nộ, si để đo lường. Nếu dùng dâm, nộ, si để đo lường thì không được làm nhà.
Tỳ-kheo nào tự tìm xin để cất thất; tự làm, tự làm chủ, không mời Tỳ-kheo biết pháp đến, lại làm quá hạn lượng thì phạm Tăng-già-bà-thi-sa.
(Phần trên là tự làm, phần dưới là lời ngăn chặn những việc phi kinh luật).
Phật ở tại núi Kỳ-xà-quật, thuộc La-duyệt-kỳ.
Lúc ấy, có một Tỳ-kheo vô tri chặt cây bạch dương lớn ở ngã tư đường để làm giảng đường. Vị thần sống ở cây ấy cõng con trai, con gái cả thảy ba người đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ sát đất, đứng qua một phía, bạch Thế Tôn rằng:
– Ở chỗ
Thế Tôn có Tỳ-kheo vô tri đã chặt cây lớn ở ngã tư đường. Cây ấy là nhà của chúng con. Bây giờ sắp đến mùa lạnh, lá cây trong vườn Trúc rụng hết, những đứa con này sẽ sống ở đâu?
Thế Tôn dùng tâm từ bi bảo một vị thiên dẫn gia đình vị thần cây ấy đến nơi an ổn thích hợp để họ sống qua mùa lạnh. Người dân nước ấy không ai là không biết và đều rao truyền với nhau là Tỳ-kheo vô tri đã chặt cây đại thọ ở ngã tư đường để làm nhà. Nghe vậy, các trưởng giả đều hờn trách việc làm của Tỳ-kheo ấy rằng:
– Các
Tỳ-kheo Thích tử đều tự nói là tinh tấn, không quấy nhiễu người. Vậy mà đã chặt cây bạch dương lớn đó để làm giảng đường, chẳng khác gì người thế tục chúng ta.
Nghe lời nói không tốt ấy, các Sa-môn đầu-đà đến bạch với Thế Tôn. Thế Tôn biết nhưng vẫn hỏi Tỳ-kheo vô tri ấy:
– Có thật ông đã chặt cây ấy không?
Tỳ-kheo vô tri ấy bên trong thì hổ thẹn, bên ngoài thì ngượng ngùng, quỳ gối phải sát đất, chấp tay bạch Thế Tôn rằng:
– Ðúng vậy, thưa Thế Tôn.
Thế Tôn bảo:
– Ông là
Tỳ-kheo, phải thường có lòng từ. Vậy vì sao lại chặt cây lớn có thần sống ở ngã tư đường để làm giảng đường?
Thế Tôn dùng vô số phương tiện để quở trách, dạy dỗ Tỳ-kheo ấy rồi tập hợp chúng Tăng, vì muốn đủ mười công đức nên kiết giới cho các Sa-môn:
–
Tỳ-kheo nào vô tri xây cất giảng đường lớn, phạm Tăng-già-bà-thi-sa. Nếu muốn xây cất giảng đường thì phải mời Tỳ-kheo biết pháp và mời đàn-việt đến. Tỳ-kheo biết pháp phải đến nói rõ kích thước, đừng cho tăng giảm. Nếu Tỳ-kheo vô tri làm nhà lớn, không mời Tỳ-kheo biết pháp và đàn-việt mà tự ý làm thì phạm Tăng-già-bà-thi-sa.
(Kích thước tùy theo đàn-việt)
Phật ở tại núi Kỳ-xà-quật, thành La-duyệt.
Lúc ấy, vua Tần-bà-sa-la bảo người đánh xe:
– Khanh hãy chuẩn bị xe ngựa báu. Ta muốn đến chỗ Thế Tôn để đảnh lễ Ngài.
Người đánh xe liền chuẩn bị xe ngựa rồi đến tâu với vua rằng:
– Vua ra lệnh chuẩn bị xe, giờ xe đã được chuẩn bị xong.
Vua
Tần-bà-sa-la liền cỡi xe báu ra khỏi thành La-duyệt, đến núi Kỳ-xà-quật.
Khi đến chỗ Thế Tôn, nhà vua xuống xe và đi lên núi, tháo bỏ năm oai nghi của vua Sát-lợi như: tháo kiếm, hạ lọng, cởi mũ ngọc châu, bỏ phất trần có chuôi bằng ngọc, cởi đôi giày nạm vàng, bỏ tùy tùng lại, chỉ dẫn theo vài người đến chỗ Phật, đảnh lễ sát đất rồi ngồi qua một phía.
Những người đi theo vua, có người lạy Phật, có người vái chào, có người chấp tay cung kính, có người đứng chiêm ngưỡng Phật.
Lúc ấy,
Thế Tôn thuyết pháp cho vua nghe. Mọi người im lặng không có một tiếng động. Nghe Phật thuyết pháp xong, vua Tần-bà-sa-la liền đứng dậy, quỳ gối phải sát đất, bày vai phải, chấp tay bạch Phật rằng:
– Ngày mai con sẽ chuẩn bị ít thức ăn thanh tịnh. Cúi xin Thế Tôn và chúng Tăng đến thọ nhận.
Thế Tôn im lặng trong giây lát để nhận lời thỉnh của vua Tần-bà-sa-la.
Thấy Thế
Tôn im lặng chấp nhận, vua liền đứng dậy, đảnh lễ sát đất, nhiễu Phật ba vòng rồi ra đi.
Khi đã về đến chỗ, ngay đêm ấy, vua cho chuẩn bị đầy đủ đồ ăn uống, tọa cụ tốt rồi bảo với cận thần:
– Khanh hãy đến chỗ Thế Tôn, nhân danh ta thăm hỏi Thế Tôn rồi thưa: “Ðồ ăn uống đã được chuẩn bị xong. Xin thỉnh Thế Tôn và đại chúng đến”.
Vâng lệnh vua, vị quan ấy liền đến chỗ Phật, đảnh lễ sát đất, bạch Thế Tôn rằng:
– Ðồ ăn uống đã được chuẩn bị xong. Xin thỉnh Thế Tôn đến thọ nhận.
Thế Tôn liền đắp y mang bát, cùng chúng Tăng đến cung vua, ngồi theo thứ lớp. Thấy Phật và chúng Tăng đã ngồi yên, vua Tần-bà-sa-la tự đi rót nước, kế đó dâng các đồ ăn uống và tự tay châm đồ ăn, không chút mệt nhọc.
Sau khi đại chúng thọ thực xong, vua ngồi qua một bên trong chốc lát rồi đứng dậy chấp tay bạch Thế Tôn rằng:
– Xin
Phật và chúng Tăng nhận sự cúng dường của con trong cả kỳ kiết-hạ này. Ở thành La-duyệt-kỳ chúng con sẽ cất cho Thế Tôn một giảng đường có kích thước đúng pháp, cửa xoay về hướng Ðông, vách phía Tây có cánh cửa lớn, kín đáo, ngay thẳng. Lại cất năm trăm phòng cho chúng Tăng, cung cấp năm trăm giường, năm trăm chiếu cói, năm trăm cái gối đầu… Các vật được dâng cúng đều là loại tốt, như lúa gạo thơm, thuốc trị bệnh trong kho của vua.
Tất cả đều được dâng cúng cho Phật và Tăng.
Thế Tôn im lặng chấp nhận lời vua nói. Lúc ấy, Thế Tôn nói lời chúc phúc cho nhà vua:
– Phạm chí thờ lửa (Suốt cả cuộc đời không tìm cầu nơi người khác) Không để cho tắt (Lửa là cửa cổng là phương hướng, là mặt trước, là đầu) Bốn bộ sách Phạm Ðứng đầu các sách Trong các người dân Vua là đứng đầu Trong các sông suối Biển là rộng nhất Sao trên không trung Mặt trăng đứng đầu Trong các sức nóng Mặt trời hơn hết Bốn phương trên dưới Cùng khắp mọi phương Trời người hai chân Phật là đứng đầu.
Sau khi chúc phúc xong, Thế Tôn trở về. Nhân việc ấy, Thế Tôn tập hợp chúng Tăng hòa hợp mà dạy rằng:
– Này các Tỳ-kheo! Vua là người đứng đầu tất cả, cai trị một vùng rộng lớn, lo làm việc nước, có thế lực lớn, còn không dám chặt cây có thần cư ngụ ở ngã tư đường để làm giảng đường, chỉ làm giảng đường không quá lượng, đúng kích thước, cửa nằm ở hướng Ðông, vách chắn ở phía Tây, có cửa sổ và cửa chính ngay ngắn. Vậy, vì sao Tỳ-kheo lại làm nhà không đúng lượng?
Phật ở vườn Trúc Ca-lan-đà, thuộc La-duyệt-kỳ.
Lúc ấy, tôn giả Ðà-tạ-mạc-lộ-tử coi việc phân chia nơi thọ thực ở thành Vương-xá, coi việc phân chia giường nằm, phân phát thức ăn cho các Tỳ-kheo, không phân biệt thân quen hay xa lạ, không chọn tốt xấu, không lo sợ, không nghi ngờ, không trái thứ lớp, trên dưới, trước sau.
Lúc ấy có một Tỳ-kheo tên Mật-đố-lộ-địa theo thứ lớp được phân đến nhà nghèo thọ thực. Tỳ-kheo ấy phải ăn thức ăn dở nên suy nghĩ: “Ta bị khổ sở, bị tai nạn, bị khốn đốn nên bị Mạc-lộ-tử phân cho ta đi nhận thức ăn dở. Ta phải làm gì để trả oán thù này? Ta phải tìm cách hủy báng ông ta bằng pháp Ba-la-di không căn cứ”.
Lúc ấy,
Tỳ-kheo đó có người em là Tỳ-kheo ni Mật-đố-lộ (họ). Khi Tỳ-kheo ni nọ đến chỗ Tỳ-kheo ấy đảnh lễ sát chân, rồi đứng qua một phía. Tỳ-kheo ấy không thèm nói chuyện, không mời ngồi. Tỳ-kheo ni nọ liền suy nghĩ: “Ta không có xâm phạm các thầy ấy, không có gây sự, không có lỗi gì. Vậy mà hôm nay các thầy ấy không nói chuyện với ta, không mời ta ngồi”.
Các
Tỳ-kheo nói:
– Này cô em! Cô không biết sao? Bọn ta đã bị Mạc-lộ-tử bắt nhận thức ăn dở để xúc phạm ta. Vậy mà cô không giúp đỡ. Vì vậy tôi không nói chuyện với cô, không mời cô ngồi.
Tỳ-kheo ni đáp:
– Tôi phải làm sao?
Tỳ-kheo ấy nói:
– Cô phải đến chỗ Thế Tôn nói rằng: “Thưa Thế Tôn! Ở đây có gì là bình đẳng, có gì là đáng quý?! Ðà-tạ-mạc-lộ-tử đã cùng con làm hạnh bất tịnh, phạm Ba-la-di”.
Tỳ-kheo ni đáp:
– Làm sao tôi phải hủy báng vị Tỳ-kheo thật sự thanh tịnh bằng pháp Ba-la-di không căn cứ?!
Tỳ-kheo đáp:
– Nếu cô không đến bạch với Phật, tôi sẽ không ngồi nói chuyện với cô.
Tỳ-kheo ni đáp:
– Có thể nói lời ấy nhưng thật khó có cơ hội.
Tỳ-kheo đáp:
– Cô từ từ đến sau, để chúng tôi đến chỗ Phật trước, sau đó cô mới đến.
Lúc ấy, các Tỳ-kheo đến chỗ Phật đảnh lễ sát đất rồi ngồi qua một phía. Họ ngồi được một lát thì Tỳ-kheo ni đến đảnh lễ sát chân Phật rồi đứng qua một phía, bạch Thế Tôn rằng:
– Bạch
Thế Tôn! Ở đây có gì bình đẳng, có gì đáng quý! Tỳ-kheo Ðà-tạ đã cùng con làm việc bất tịnh, phạm Ba-la-di.
Lúc ấy các Tỳ-kheo kia đồng tình bạch Thế Tôn rằng:
– Ðúng vậy, thưa Thế Tôn! Ðúng như lời Tỳ-kheo ni nói, chúng con đều biết hết.
Lúc ấy, tôn giả Ðà-tạ đang cầm phất trần phất qua phất lại sau lưng Thế Tôn. Thế Tôn quay lại hỏi Tỳ-kheo Ðà-tạ:
– Ông có gì để nói không? Tỳ-kheo ni Mật-đố-lộ đã nói: “Có gì bình đẳng, có gì đáng quý! Tỳ-kheo Ðà-tạ đã cùng con làm việc bất tịnh, phạm Ba-la-di”.
Tỳ-kheo
Ðà-tạ bạch:
– Việc ấy chỉ có Như Lai biết, chỉ có Thế Tôn biết.
Thế Tôn bảo:
– Này
Ðà-tạ! Ông không nên lấy ta làm chứng. Không nên nói rằng chỉ có Như Lai biết, chỉ có Thế Tôn biết. Nếu ông nhớ là có làm thì nói là đã làm, nếu nhớ không có làm thì nói là không có làm.
Tỳ-kheo ấy bạch Phật:
– Con không nhớ, thưa Thế Tôn. Con không nhớ, thưa Như Lai.
Lúc ấy,
Thế Tôn bảo Tỳ-kheo rằng:
– Theo lời bạch của Tỳ-kheo Ðà-tạ và theo lời thưa của Tỳ-kheo Mật-đố-lộ, nếu đúng như vậy thì phạm Ba-la-di.
Nói xong, Thế Tôn đứng dậy, trở vào tịnh thất.
Thế Tôn vừa đi được một lát, các Tỳ-kheo liền gạn hỏi Tỳ-kheo ni Mật đố lộ, gạn hỏi luôn các Tỳ-kheo đồng tình rằng:
– Các vị có thấy lỗi của Tỳ-kheo Ðà-tạ không? Thấy lúc nào? Thấy làm sao? Nghe theo ai mà nói thấy?
Các
Tỳ-kheo liên tục quở trách và hỏi rõ sự thật. Các Tỳ-kheo đã đồng tình đáp:
– Do sân hận, ngu si nên chúng tôi nói vậy. Thật sự phạm hạnh của Tỳ-kheo Ðà-tạ hoàn toàn trong sạch.
Các
Tỳ-kheo nói:
– Vì sao các ông đem ý sân hận, ngu si phỉ báng vị ấy, rồi giờ lại nói Tỳ-kheo ấy thanh tịnh?
Họ trách các Tỳ-kheo đồng tình bằng lời như vậy đến ba lần.
(Các
Tỳ-kheo kia liền thuật lại sự việc như sau)
Bấy giờ,
Phật ở vườn Trúc Ca-lan-đà, thuộc thành La-duyệt-kỳ.
Lúc ấy, tôn giả Ðà-tạ giữ nhiệm vụ phân chia cơm và ghế ngồi, giường chiếu cho các Tỳ-kheo. Vị ấy không có ý riêng tư, không sân hận, không ngu si, phân chia theo thứ lớp từ trên đến dưới, hoặc từ đưới lên trên không có trái oai nghi.
Lúc ấy, có Tỳ-kheo nọ được phân trúng nhà nghèo khổ, phải nhận thức ăn dở, liền sanh ý nghĩ này: “Ta thật khổ kịch liệt, thật nguy ách. Tỳ-kheo Ðà-tạ đã gây cho chúng ta nỗi khổ này. Chúng ta phải cho ông ta mắc lỗi Ba-la-di không căn cứ”.
Thưa các thầy, vì lý do đó, vì sân hận, si mê nên chúng tôi đã nói lời như vậy.
Thật ra thì phạm hạnh của Tỳ-kheo Ðà-tạ hoàn toàn thanh tịnh.
Lúc ấy,
Thế Tôn từ tịnh thất trở lại giảng đường, ngồi trước các Tỳ-kheo. Các Tỳ-kheo chấp tay bạch Phật:
– Lúc nãy, khi Như Lai vào trong thất được một lát, chúng con gạn hỏi Tỳ-kheo Mật-đố-lộ-địa rằng: “Các ông thấy làm sao? Thấy lúc nào? Nghe theo ai mà nói là thấy?”, thì Mật-đố-lộ-địa nói là do sân hận ngu si mà nói lời ấy.
Thế Tôn bảo:
– Vì sao vậy, các Tỳ-kheo?! Chẳng phải Ta đã từng nói nghĩa này sao? Lời bạch của Tỳ-kheo Ðà-tạ và lời Tỳ-kheo Mật-đố-lộ tự nói, nếu đúng như vậy thì phạm Ba-la-di.
Nhơn việc này và để đầy đủ mười công đức, Phật liền kiết-giới cho các Sa-môn:
–
Tỳ-kheo nào vì giận hờn, ganh ghét nên đối với Tỳ-kheo thanh tịnh không phạm Ba-la-di lại phỉ báng bằng pháp Ba-la-di không căn cứ để hủy hoại phạm hạnh của vị ấy. Về sau, khi bị gạn hỏi nhiều lần, việc ấy được biết là không căn cứ, Tỳ-kheo đã hủy báng không chịu hối cải thì phạm Tăng-già-bà-thi-sa.
Phật ở tại núi Kỳ-xà-quật, thuộc thành La-duyệt.
Lúc ấy, tôn giả Ðà-tạ cư trú trong một cái thất bằng đá. Các Tỳ-kheo thay nhau giáo huấn Tỳ-kheo ni. Lúc đó đến lượt Tỳ-kheo Ðà-tạ phải giáo huấn Tỳ-kheo ni. Các Tỳ-kheo ni đến chỗ Tỳ-kheo Ðà-tạ. Do việc thù oán về đồ ăn uống trước đây, các Tỳ-kheo đồng tình của Tỳ-kheo Mật-đố-lộ-địa thường rình tìm lỗi lầm của Tỳ-kheo Ðà-tạ. Họ ngồi rình ở hốc đá trong tịnh thất. Trông thấy các Tỳ-kheo ni ra vào căn thất bằng đá, các Tỳ-kheo ấy suy nghĩ: “Các Tỳ-kheo ni này chợt ra chợt vào, chắc chắn là Tỳ-kheo Ðà-tạ đã níu kéo và nói chuyện riêng tư với các cô ấy”.
Họ cùng nói với nhau: “Chắc chắn như vậy, không còn nghi ngờ”, và lập tức thông báo với các Tỳ-kheo về việc ấy. Nghe lời này, các Tỳ-kheo khờ khạo liền tin ngay. Các Tỳ-kheo đầu-đà nghe việc ấy xong đều không vui, liền đến bạch đầy đủ với Thế Tôn. Do việc ấy, Thế Tôn liền tập hợp chúng Tăng hòa hợp đủ mười công đức để kiết giới cho các Tỳ-kheo:
Tỳ-kheo nào vì giận hờn, ganh ghét đối với Tỳ-kheo thanh tịnh, lại vu khống đã phạm hạnh bất tịnh, rình tìm từng lỗi nhỏ, không phạm Ba-la-di lại nói là phạm Ba-la-di. Về sau, khi bị gạn hỏi nhiều lần mà hối hận trở lại thì tốt, nếu không hối hận mà cố rình tìm những lỗi nhỏ khác để diễn thành lỗi lớn thì phạm Tăng-già-bà-thi-sa.
Phật ở tại núi Kỳ-xà-quật, thuộc thành La-duyệt.
Vào sáng sớm, lúc ấy tôn giả Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên đắp y mang bát đi từ núi Kỳ-xà-quật vào thành La-duyệt. Trên đường chợt gặp mưa lớn, họ liền vào hang đá tránh mưa. Có một cô gái chăn bò đã vào trong ấy tránh mưa từ trước, nằm mộng xuất tinh. Thấy vậy, Xá-lợi-phất liền đi trở ra.
Lúc ấy, thấy Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên đi ra, Tỳ-kheo Cù-bà-ly – đệ tử của Ðiều-đạt – liền vào hang đá và thấy người nữ ấy, liền suy nghĩ: “Chắc chắn Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên đã làm việc bất tịnh hạnh với người nữ này”.
Cù-bà-ly liền vào thành nói với các Tỳ-kheo:
– Các thầy thường nói Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên thanh tịnh, nay họ đã làm dơ hạnh thanh tịnh ấy. Vừa rồi, tôi đã thấy rõ việc này.
Các
Tỳ-kheo không biết trả lời thế nào liền đến bạch Thế Tôn. Thế Tôn bảo:
– Kẻ ngu si này mắc tội rất nặng, đã vu khống Tỳ-kheo thanh tịnh bằng pháp Ba-la-di không căn cứ. Kẻ ngu si này sẽ phải đọa địa ngục, chịu khổ trong thời gian lâu dài.
Lúc ấy,
Tỳ-kheo Cù-ba-ly đến chỗ Phật, đảnh lễ sát đất rồi ngồi qua một phía. Thế Tôn bảo Cù-bà-ly:
– Này
Tỳ-kheo Cù-bà-ly! Ông phải lập tức sám hối với Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên. Vì sao vậy? – Các thầy ấy đầy đủ phạm hạnh.
Cù-bà-ly bạch Phật:
– Con biết Như Lai tin người ấy thanh tịnh, nhưng chính mắt con thấy Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên làm ác.
Thế Tôn lại bảo Cù-bà-ly:
– Này
Cù-bà-ly! Ông phải lập tức sám hối với Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên. Vì sao vậy? – Các thầy ấy đầy đủ phạm hạnh.
Cù-bà-ly bạch Phật:
– Con biết Như Lai tin Xá-lợi-phất…. nhưng chính mắt con thấy Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên làm ác.
Phật lại nói với Cù-bà-ly lần thứ ba:
– Ông phải sám hối với Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên. Vì sao vậy? – Các thầy ấy hoàn toàn đầy đủ phạm hạnh.
Cù-bà-ly lại bạch Phật:
– Con biết Như Lai tin các thầy ấy trong sạch, nhưng chính mắt con đã thấy Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên làm ác.
Phật nói ba lần, Tỳ-kheo Cù-bà-ly vẫn không nghe và lập tức đứng dậy bỏ đi.
Sau khi đi không được bao lâu, khắp thân thể ông ta liền sanh mụt ghẻ giống như hạt cải. Mụt ấy lớn dần lên như hạt đậu ve, rồi như hạt đậu nành, rồi lớn như hạt đậu thư (giống hạt táo), rồi lớn như quả A-ma-lặc, rồi như quả Lặc-lộ, rồi thối rửa, vỡ tung, máu mủ tuôn trào khắp thân thể.
Ngay đêm ấy, Tỳ-kheo Cù-bà-ly qua đời, đọa xuống địa ngục Bà-đàm-mộ. Ngay đêm ấy, có một vị thiên đến chỗ Phật, đảnh lễ sát đất rồi đứng qua một phía, bạch Thế Tôn rằng:
–
Tỳ-kheo Cù-bà-ly phát sanh ý ác, vu khống Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên phạm phạm-hạnh nên bị đọa vào địa ngục Bà-đàm-mộ.
Sau khi bạch xong, vị thiên ấy đảnh lễ Thế Tôn rồi trở về cõi trời.
Phật bảo các Tỳ-kheo:
– Ðêm qua có một vị thiên đến chỗ Ta, đảnh lễ sát chân Ta rồi đứng qua một phía, bạch với Ta rằng: “Tỳ-kheo Cù-bà-ly phát sanh ý ác, phỉ báng Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên phạm phạm-hạnh nên chết đọa vào địa ngục Bà-đàm-mộ.
Tỳ-kheo ấy chỉ nhân việc nhỏ mà phỉ báng các Tỳ-kheo có phạm hạnh thanh tịnh. Tỳ-kheo nào phỉ báng như vậy, phạm Tăng-già-bà-thi-sa.
Lúc ấy,
Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
– Các vị có muốn nghe thọ mạng của chúng sanh ở địa ngục lớn Bà-đàm-mộ dài ngắn thế nào không?
Các
Tỳ-kheo đáp:
– Xin
Thế Tôn hãy nói về địa ngục lớn Bà-đàm-mộ ngay lúc này. Nghe xong các Tỳ-kheo sẽ ghi nhớ phụng hành.
Thế Tôn nói:
– Này các Tỳ-kheo! Ví như có cái đấu rất lớn có sức chứa mười hai hộc, được đựng đầy hạt mè đến nỗi vun thành ngọn. Có người cứ một trăm năm đến lấy một hạt mè, này các Tỳ-kheo, thời gian mà người ấy lấy hết số hạt mè trong đấu ấy còn có thể tính biết được, tuổi thọ của người ở trong địa ngục A-phù thì không thể tính được. Như hai mươi lần tuổi thọ ở địa ngục Vô-thật không bằng một tuổi thọ của địa ngục Không-vô-thật. Hai mươi địa ngục Không-vô-thật không bằng một địa ngục Kêu gào. Hai mươi địa ngục Kêu gào không bằng một địa ngục Xử-bà. Hai mươi địa ngục Xử-bà không bằng một địa ngục Tu-càn-đề. Hai mươi địa ngục Tu-càn-đề không bằng một địa ngục Ma-đầu. Hai mươi địa ngục Ma-đầu không bằng một địa ngục Ưu-ba-la. Hai mươi địa ngục Ưu-ba-la không bằng một địa ngục Câu-vật-đầu. Hai mươi địa ngục Câu-vật-đầu không bằng một địa ngục Phân-đà-ly. Hai mươi địa ngục Phân-đà-ly không bằng một địa ngục Bà-đàm-mộ.
Tỳ-kheo
Cù-bà-ly – đệ tử của Ðiều-đạt – sanh vào địa ngục này vì tội phỉ báng Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên.
TỲ NẠI DA
Hết quyển bốn
QUYỂN THỨ NĂM PHẦN THỨ BA CỦA PHÁP TĂNG-TÀN NÓI VỀ GIỚI PHÁ TĂNG – PHẦN 1
Phật ở tại vườn Trúc Ca-lan-đà, thuộc thành La-duyệt.
Ðiều-đạt nhận sự cúng dường y áo, thức ăn, giường nằm, thuốc chữa bệnh, được thái-tử A-xà-thế quý trọng, tùy thời cung cấp, mỗi ngày cung cấp năm trăm nồi cơm, chuẩn bị năm trăm cỗ xe nối nhau chở đồ đạc đến chỗ Ðiều-đạt suốt ngày.
Lúc đầu có một trăm người đi theo Ðiều-đạt, dần dần lên đến hai trăm, ba trăm, bốn trăm, năm trăm người làm mê hoặc nhà vua. Vì muốn phá hoại, gây rối loạn chúng Tăng, dụ dỗ các Tỳ-kheo, khi ngồi ăn, Ðiều-đạt cho họ y bát, ống khóa, ống đựng kim, giày da, chén sắt loại lớn, nhỏ và mười vật khác.
Ðiều-đạt bảo các Tỳ-kheo:
– Kia là
Thích chủng Cù-Ðàm. Ta cũng là Thích chủng Cù-Ðàm. Dòng tộc của mẹ vị kia hoàn hảo, dòng tộc của mẹ ta cũng hoàn hảo. Kia sanh trong nhà họ Thích, ta cũng sanh trong nhà họ Thích. Dòng họ của người kia với ta không khác.
Lúc ấy, trong nước đói kém, khất thực khó được, nhiều Tỳ-kheo đắp y mang bát vào thành La-duyệt-kỳ khất thực. Khi khất thực, họ nghe tin Ðiều-đạt muốn phá hoại gây rối chúng Tăng, dụ dỗ các Tỳ-kheo bằng cách cho họ y, bát, khóa cửa, ống đựng kim, giày da, chén loại lớn, chén loại nhỏ và mười vật khác.
Vì tham y áo và các thứ ấy, các đệ tử của Ðiều-đạt liền đi theo trợ giúp ông ta.
Sau khi khất thực xong, các Tỳ-kheo ra khỏi thành La-duyệt, đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ sát đất, ngồi qua một phía, bạch với Thế Tôn rằng:
– Vừa rồi, khi vào thành khất thực, chúng con nghe nói Ðiều-đạt muốn phá hoại, gây rối loạn chúng Tăng. Các Tỳ-kheo tham y bát, ổ khóa, ống đựng kim, giày da, chén loại lớn, chén loại nhỏ và mười vật khác nên đi theo ông ta.
Thế Tôn bảo:
–
Tỳ-kheo các ông chớ có nhận sự cúng dường của Ðiều-đạt. Vì sao vậy? – Các Tỳ-kheo thà tự uống thuốc độc mà chết, chứ không nên nhận sự cúng dường của Ðiều-đạt. Ðiều-đạt đã tự uống thuốc độc, lại đưa người khác uống.
Này các
Tỳ-kheo! Giống như có người dùng gậy đập gãy mũi con chó dữ, con chó dữ đó có bớt dữ không vậy?
– Vẫn còn hung dữ, thưa Thế Tôn!
– Cũng vậy, này các Tỳ-kheo! Kẻ dữ ấy sẽ chịu khổ vô cùng trong thời gian rất dài. Ta cũng biết Ðiều-đạt sẽ chính thức phá hoại chúng Tăng và phá hoại sự hòa hợp Tăng vào buổi sáng.
Thường pháp của chư Phật là sự hòa hợp Tăng bị phá hỏng vào buổi sáng thì đến chiều sẽ hòa hợp trở lại.
Trong thời gian ấy, không được hành đạo, không được truyền giới Tỳ-kheo, không được thuyết giới Tỳ-kheo, không được thuyết giới Thức-xoa-ma-ni, không được truyền giới Sa-di, không được truyền giới Sa-di ni, không được thực hành tám giới, không được truyền giới Ưu-bà-tắc, không được truyền giới Ưu-bà-di, không ai đắc đạo quả, không ai phát tâm quy y Tam bảo. Lúc ấy trời đất tối tăm, trời người mù mịt. Ðến chiều tối, trong pháp Như Lai, Tăng sẽ được hòa hợp trở lại, nếu không hòa hợp, trời đất sẽ nghiêng ngửa.
Nghe tin
Ðiều-đạt phá hoại sự hòa hợp Tăng, Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên liền đến gặp Thế Tôn, đảnh lễ sát đất, ngồi qua một phía, bạch Thế Tôn rằng:
–
Ðiều-đạt đã phá hòa hợp Tăng, chúng con muốn đến chỗ Ðiều-đạt để làm Tăng hòa hợp trở lại.
Thế Tôn bảo Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên:
– Hãy đi mau đi, đã đúng thời rồi đó.
Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên liền đứng dậy, đảnh lễ sát đất, nhiễu Phật ba vòng rồi đến chỗ Ðiều-đạt.
Trông thấy Ðiều-đạt đang ngồi trên tòa cao thuyết pháp giống như Như Lai, có các Tỳ-kheo vây xung quanh, bên phải có Khiên-đà, Ðà-bà; bên trái có Ca-lưu, La-đề-thi (bốn người này là đệ tử thân cận của Ðiều-đạt). Hải Nghĩa cầm phất trần đứng phía sau Ðiều-đạt.
Trông thấy Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên đến, Ðiều-đạt hết sức vui mừng, không thể tự kềm chế suy nghĩ: “Ðệ tử đứng đầu của Sa-môn Cù-đàm đang đến chỗ ta”.
Như Thế
Tôn thấy Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên thì nói rằng: “Thiện lai Tỳ-kheo!”, Ðiều-đạt cũng nói:
– Thiện lai Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên!
Ông ta bảo Khiên-đà đứng dậy và mời Xá-lợi-phất ngồi thế vào ở bên phải, bảo Ca-lưu-đà đứng dậy và mời Mục-kiền-liên ngồi thế vào ở bên trái.
Như Thế
Tôn bảo: “Tôn giả Xá-lợi-phất hãy nói pháp cho các Tỳ-kheo, Ta bị đau lưng, muốn nghỉ ngơi chốc lát.”, Ðiều-đạt cũng bảo Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên:
– Hãy nói pháp cho các Tỳ-kheo. Ta đang đau lưng, muốn nghỉ chốc lát.
Như Thế
Tôn xếp y thượng thành bốn lớp trải trên giường, nằm nghiêng về hông phải, gối đầu lên Tăng-già-lê, chân duỗi thẳng giống như sư tử, chú tâm niệm ánh sáng cho đến sáng, Ðiều-đạt cũng bắt chước như vậy.
Lúc
Ðiều-đạt ngủ, vị thiên Thủ-đà-hội đến đè lên thân ông ta, làm cho ông ấy rất muốn dậy, nhưng cố hết sức vẫn không dậy được, hơi thở hào hển, nói mớ sảng, quơ tay múa chân, quơ quào bốn phía, làm đủ các động tác vẫn không thể dậy được.
Lúc ấy, tôn giả Xá-lợi-phất ca ngợi Phật pháp và chúng Tăng. Mục-kiền-liên thì biến hóa đủ cách như: biến mất ở phía Ðông, xuất hiện ở phía Tây; biến mất ở phía Nam, xuất hiện ở phía Bắc; ngồi, nằm trên hư không, hoặc ngồi thiền định, ở trong thiền định phóng ra các loại ánh sáng hoặc xanh, hoặc vàng, hoặc đỏ, hoặc đen, hoặc màu lưu ly; phía dưới thân phát lửa, bên trên thân phun nước; bên trên thân phát lửa, dưới thân phun nước, biến hóa đủ cách ở các phương Tây, Nam, trên, dưới, không có bị ngăn ngại, phóng ánh sáng chiếu khắp mọi nơi.
Thấy
Mục-kiền-liên hiện các biến hóa, năm trăm Tỳ-kheo đều cùng nhau nói:
– Phải chăng chúng ta bị rơi vào tà kiến nên đã bỏ Như Lai mà nương tựa Ðiều-đạt?!”.
Họ lại suy nghĩ: “Việc ấy hiển nhiên rồi, không còn gì nghi ngờ nữa.”.
Sau khi nghe tôn giả Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên thuyết pháp xong, họ liền được tâm khai ý giải, phát sanh lòng từ, hướng về Như Lai sám hối việc làm trước đây.
Lúc ấy,
Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên và năm trăm Tỳ-kheo đến chỗ Thế Tôn. Ở chỗ Ðiều-đạt không còn một ai, chỉ còn có Ðiều-đạt và bốn đệ tử Tỳ-kheo.
Khiên-trà-đà-bà dùng chân trái đạp Ðiều-đạt để đánh thức ông ta dậy và nói rằng:
–
Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên dẫn năm trăm người đi hết rồi.
Ðiều-đạt tỉnh dậy, thấy trên tòa trống rỗng, không còn một người, liền ngã lăn từ trên tòa xuống đất. Ðệ tử ông ta lấy nước vẩy lên mặt ông ta rồi cho ngồi lên ghế trở lại.
Lúc ấy,
Thế Tôn rời tịnh thất, ra giảng đường bên ngoài, trải tọa cụ trên sàn và ngồi kiết-già. Trông thấy Như Lai đang ngồi kiết-già trên giảng đường, năm trăm Tỳ-kheo trong lòng hổ thẹn, bên ngoài thì ngượng ngùng, liền tiến đến chỗ Như Lai. Như Lai cũng thấy năm trăm Tỳ-kheo đến nên quay lại nói với A-Nan:
– Nếu ta không nói thì miệng họ sẽ trào máu nóng.
Lúc ấy do tâm đại bi muốn độ những người ấy, Như Lai liền nói:
– Thiện lai Tỳ-kheo! Khó gặp Như Lai, nhiều đời mới có. Tuy Như Lai xuất thế; nghe pháp cũng khó, muốn cầu diệt độ thì càng khó hơn. Muốn vào Niết-bàn phải thực hành pháp này:
Do si, hành sanh.
Do hành, thức sanh.
Do thức, danh sắc sanh.
Do danh sắc, lục nhập sanh.
Do lục nhập, xúc sanh.
Do xúc, thọ sanh.
Do thọ, ái sanh.
Do ái, thủ sanh.
Do thủ, hữu sanh.
Do hữu, sanh sanh.
Do sanh, lão – bệnh – tử phát sanh.
Do lão – bệnh tử, sầu bi – khổ não sanh.
Như vậy liền thành nỗi khổ năm ấm.
Si diệt thì hành diệt.
Hành diệt thì thức diệt.
Thức diệt thì danh sắc diệt.
Danh sắc diệt thì lục nhật diệt.
Lục nhập diệt thì xúc diệt.
Xúc diệt thì thọ diệt.
Thọ diệt thì ái diệt.
Ái diệt thì thủ diệt.
Thủ diệt thì hữu diệt.
Hữu diệt thì sanh diệt.
Sanh diệt thì già – bệnh – chết diệt.
Già, bệnh, chết diệt thì sầu bi, khổ não và nỗi khổ năm ấm cũng không còn.
Khi Phật nói pháp mười hai nhân duyên xong, năm trăm Tỳ-kheo đều đắc đạo A-la-hán, tám triệu thiên nữ được pháp nhãn thanh tịnh.
Lúc ấy, vì muốn đầy đủ mười công đức, Thế Tôn liền kiết giới cho Sa-môn:
–
Tỳ-kheo nào gây rối, phá hoại sự hòa hợp Tăng thì phạm Tăng-già-bà-thi-sa.
Ðiều-đạt vi phạm việc đó, nhập vào địa ngục, không ai cứu được.
Phật ở tại hang đá lớn – nơi Dược-xoa Kim-tỳ-la cư trú – tại núi Kỳ-xà-quật, thuộc thành Vương-xá.
Lúc ấy,
Ðiều-đạt muốn hại Thế Tôn, dùng bốn ngàn lượng vàng thuê bốn lực sĩ và cùng bốn người đó lên núi Kỳ-xà-quật, ôm tảng đá lớn, đứng bên trên hang đá, đợi Như Lai đi ra.
Khi Phật ra khỏi hang đá để kinh hành, Ðiều-đạt cùng bốn người kia liền thả đá từ trên núi xuống để đè Như Lai. Lúc ấy, Dược-xoa Kim-tỳ-la đang đứng phía sau Như Lai. Trông thấy tảng đá đang rơi xuống, Dược-xoa liền đưa hai tay đỡ nó và quăng qua núi phía Nam. Tảng đá đó vỡ tan. Có một mảnh nhỏ – kích thước khoảng bảy mươi bộ – văng về phía Thế Tôn.
Vì muốn cho chúng sanh thấy nghiệp báo đời trước nên Như Lai liền ngồi thiền bay lên hư không. Hòn đá liền đuổi theo sau, mọi người đều thấy rõ.
Như Lai bay qua các phương Tây, Nam, Bắc, hòn đá đều đuổi theo sau.
Như Lai đi vào lòng đại dương, hòn đá cũng đuổi theo sau.
Như Lai bay lên đỉnh núi Tu-di, hòn đá cũng theo sau.
Như Lai vào cung trời trên núi Tứ-vương-ny-da, hòn đá cũng đuổi theo.
Như Lai lên các cõi trời Tam-thập-tam, Diệm-ma, Ðâu-suất, Niết-ma-la, Na-đề-ba-la, Ni-mật-bà-xá, Bạt-đề-phạm, Già-di-phạm, Phước-lâu-hê-đà, Ba-lật-đa, Bà-a-bà, Tối-la-a-nam, Tề-phất-như, Bát-tu-đa, Tỳ-pha-la, Túc-ha-túc-ha, A-thi-na-túc-ha, Ngật-túc-ra, A-ca-ny-tra… hòn đá cũng đều đuổi theo sau.
Thế Tôn dùng lực thần túc trở vào trong hang đá, tảng đá đè lên bàn chân phải của Thế Tôn làm chân bị thương, chảy máu. Ðiều-đạt và bốn lực sĩ bị mắc tội, không ai cứu được.
Lúc ấy,
Thế Tôn bị đau đớn nơi chân, liền nói kệ:
Dù trốn ở hư không
Giữa biển sâu, núi đá
Không ở đâu thoát được
Tội báo ở đời trước.
Lúc ấy, nhiều Tỳ-kheo thoạt ngồi, thoạt đi ở hai bên hang đá vì sợ Ðiều-đạt hại Như Lai. Thấy vậy, Như Lai biết mà vẫn hỏi A-Nan:
– Các
Tỳ-kheo ấy đang làm gì ngoài hang đá mà thoạt đi, thoạt ngồi vậy?
A-Nan bạch Phật:
– Trông chừng Như Lai, vì sợ Ðiều-đạt làm hại Như Lai nên họ thoạt đi, thoạt ngồi.
Thế Tôn bảo A-Nan:
–
Ðiều-đạt rốt cuộc không thể hại được Như Lai Thế Tôn. Ông có từng nghe Như Lai bị người khác làm hại không?
– Không, thưa Thế Tôn.
Lúc ấy,
Thế Tôn ngước mặt nhìn lên. Thấy Như Lai nhìn, bốn lực sĩ sợ hãi dựng tóc gáy, định chạy nhưng không nhấc chân lên được.
Các
Sa-môn liền bắt từng người đem đến chỗ Phật.
Như Lai bảo bốn lực sĩ:
– Xin chào các cậu. Ta sẽ nói pháp cho các cậu nghe.
Bốn lực sĩ đảnh lễ sát chân Phật rồi ngồi qua một phía.
Lúc ấy,
Thế Tôn nói pháp ngữ để làm họ hoan hỷ. Sau khi nói pháp, Như Lai dạy:
– Các cậu hãy trở về nhà, chớ đi theo hướng lúc nãy đã đi.
Thấy bốn người đó đi lâu quá không trở lại, Ðiều-đạt dùng tám ngàn lượng vàng, thuê tám lực sĩ đi giết bốn người ấy. Trông thấy tám lực sĩ đến, Thế Tôn bảo:
– Lành thay, xin chào các cậu. Ta sẽ nói pháp cho các cậu.
Tám lực sĩ liền đảnh lễ sát đất và ngồi qua một phía. Thế Tôn liền nói pháp làm cho họ đều hoan hỷ và bảo:
– Các cậu hãy trở về nhà, chớ có đi theo con đường lúc nãy đã đi.
Thấy tám người này đi quá lâu không trở lại, Ðiều-đạt lại dùng mười sáu ngàn lượng vàng, thuê mười sáu lực sĩ đi giết tám người kia.
Trông thấy mười sáu người đến, Thế Tôn bảo:
– Xin chào các cậu, Ta sẽ nói pháp cho các cậu nghe.
Mười sáu người ấy đảnh lễ sát đất, ngồi qua một phía. Thế Tôn nói pháp làm cho họ đều hoan hỷ rồi bảo:
– Các cậu hãy trở về nhà, chớ có đi theo hướng lúc nãy đã đến.
Thấy mười sáu người ấy không trở về đúng hẹn, Ðiều-đạt lại thuê ba mươi hai lực sĩ đi giết mười sáu người kia.
Trông thấy ba mươi hai người đến, Thế Tôn bảo:
– Xin chào các cậu. ta sẽ nói pháp cho nghe.
Ba mươi hai người ấy đảnh lễ Thế Tôn và ngồi qua một bên.
Thế Tôn thuyết pháp làm họ đều hoan hỷ và bảo:
– Các cậu hãy trở về nhà mình theo lối đi thích hợp.
Vâng lời
Thế Tôn, ba mươi hai người ấy đứng dậy, đảnh lễ sát đất rồi đi.
Thấy ba mươi hai người ấy đi được một lát, Thế Tôn quay lại hỏi A-Nan:
– Ông hãy vào thành La-duyệt, đến các ngã tư đường và các chợ lớn thông báo rằng: “Tất cả lời nói, ý nghĩ, hành động của Ðiều-đạt đều không phải là do Phật, Pháp, Tăng dạy” cho đệ tử thân tín của ông ta biết.
A-Nan bạch Phật:
– Trước đây, khen ngợi Ðiều-đạt, nay lại nói xấu ông ta. Nếu có ai chê trách thì phải nói làm sao?
Thế Tôn bảo A-Nan:
– Hãy nói như vầy: “Tuy trước đây làm tốt nhưng nay lại làm ác, có gì là quái lạ?!”.
A-Nan liền dẫn theo một Tỳ-kheo đến thành La-duyệt, đứng ở các chợ lớn, các ngã tư đường thông báo rằng: “Tất cả lời nói, ý nghĩ, hành động của Ðiều-đạt đều không phải là do Phật, Pháp, Tăng dạy” cho đệ tử thân tín của ông ta biết.
Nghe tiếng xấu của Ðiều-đạt, thái tử A-xà-thế và cận thần của ông ta, những người đang theo Ðiều-đạt trở về, nói với nhau:
– Sa-môn
Cù-đàm vì ganh ghét nên phỉ báng Ðiều-đạt hiền lương. Ðiều-đạt nào có lỗi gì nơi thân, miệng đâu.
Khi
Ðiều-đạt nghe tin Sa-môn Cù-đàm sai người thân tín vào thành La-duyệt, đứng ở các chợ lớn, các ngã tư đường thông báo rằng: “Tất cả lời nói, ý nghĩ, hành động của Ðiều-đạt đều không phải là do Phật, Pháp, Tăng dạy” cho đệ tử thân tín của ông ta biết. Nghe tin ấy xong, Ðiều-đạt càng thêm tức giận, liền đến chỗ thái tử A-xà-thế bảo rằng:
– Anh hãy giết cha, còn tôi giết Sa-môn Cù-đàm. Anh làm vua xứ Ma-kiệt, còn tôi làm Phật. Ở nưóc Ma-kiệt này sẽ có vua mới và Phật mới, chẳng phải vui sao?!
Nghe lời ấy, thái-tử rất vui mừng.
Lúc đó, vua Tần-bà-sa-la cỡi xe lông báu đến vườn ngự uyển để tham quan. Thái-tử A-xà-thế đeo kiếm bén ở thắt lưng, ẩn mình gần cổng để đợi vua cha.
Sau một ngày vui đùa, vua lên xe tứ mã để về cung. Khi vua vừa vào cổng, thái-tử rút kiếm bén phóng tới, làm con ngựa sợ hãi nhưng không trúng vua. Thái tử liền bỏ chạy, các cận thần đuổi theo bắt được. Cận thần đó hỏi:
– Thái tử định làm gì?
Thái tử đáp:
– Ta muốn giết vua.
Cận thần lại hỏi:
– Có ai là phe đảng không?
– Ðó là thầy Ðiều-đạt và bốn đệ tử.
Bốn người ấy bàn luận:
– Nếu thật vậy thì phải bắt giết hết Sa-môn Thích tử.
Có người lại bàn:
– Hãy để yên cho Sa-môn Thích tử. chỉ bắt Ðiều-đạt và đồng bọn đem giết thôi.
Lại có người bàn:
– Chớ có giết Sa-môn Thích tử. Cũng chớ có giết Ðiều-đạt và đồng bọn. Vì sao vậy? – Vua Tần-bà-sa-la rất hiền lành, thường tha thứ cho những người mắc tội tử hình đang bị nhốt trong ngục, huống là Sa-môn Thích tử và Ðiều-đạt cùng đồng bọn. Chúng ta chỉ nên đến tâu với vua, vua sẽ tự phán xử. Việc gì chúng ta tự gây thù oán.
Họ liền đến tâu với vua.
Sáng hôm sau vua ra khỏi cung điện, lên trên tòa, sai người thân tín đi gọi thái tử A-xà-thế. Thái tử đến, vua liền hỏi:
– Con định làm gì vậy?
– Tôi muốn giết vua.
– Vì sao con muốn giết ta?
Thái tử nói:
– Vua có trống đưa đón, tôi không có trống đưa đón. Vua có lọng che, tôi không có lọng che. Vua có nghi vệ, tôi không có nghi vệ.
Vua bảo thái tử:
– Con hãy thay ta sử dụng trống, lọng, nghi vệ, những thứ ấy đều thuộc về con hết.
Lúc ấy, trống đưa đón, lọng, nghi vệ đều theo sau thái tử.
Những cận thần xiểm nịnh của thái tử nói rằng:
– Nếu thật vậy thì thái tử đã lên ngôi. Ðã lên ngôi thì hãy bắt vua đem giết đi để được tự do.
Thái tử liền chấp thuận lời ấy, sai Chiên-đà-la đến bắt vua cha nhốt trong ngục.
Chiên-đà-la liền bắt vua nhốt vào ngục.
Vì vua vốn nhân từ với dân nên hàng vạn người dân thường đem thức ăn đến nuôi vua.
A-xà-thế hỏi cận thần:
– Vua cha còn sống không?
Ðáp:
– Còn sống.
– Vì sao vậy?
Ðáp:
– Nhân dân mang thức ăn đến đãi nên vua còn sống.
Thái tử bảo:
– Không cho người dân đến.
Các phu nhân lại đem thức ăn đến cho vua.
A-xà-thế hỏi:
– Vua cha vẫn còn sống chứ?
Ðáp:
– Còn sống.
Thái tử lại ra lệnh:
– Ðừng cho các phu nhân vào thăm vua.
Lúc ấy hoàng hậu lấy thức ăn bôi lên thân rồi mặc áo che bên ngoài, không cho phát hiện, rồi vào thăm vua để vua dùng thức ăn trên thân ấy.
Thái tử lại hỏi:
– Vua cha còn sống không?
Ðáp:
– Còn sống.
Thái tử ra lệnh:
– Nhốt luôn hoàng hậu vào ngục.
Vua cha hướng về núi Kỳ-xà-quật, trông thấy Thế Tôn và các Tỳ-kheo như Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên, A-na-lân-đà, Nan-đề, Kim-tỳ-la lên núi, xuống núi…
Vốn đã đắc sơ quả nên khi thấy chúng Tăng, vua liền hoan hỷ, không còn ý tưởng đói khát.
A-xà-thế lại hỏi cận thần:
– Vua cha còn sống không?
Ðáp:
– Vua cha còn sống.
Thái tử hỏi:
– Vì sao còn sống?
Cận thần ganh ghét đáp:
– Hằng ngày vua hướng về Như Lai mà lễ bái nên vẫn còn sống.
Thái tử bảo:
– Ông hãy đốc thúc đắp vách tường cao che trước ngục, đừng cho thấy núi Kỳ-xà-quật.
Họ liền đắp tường ngăn không cho thấy Phật.
Thường pháp của chư Phật quá khứ, vị lai, hiện tại là: khi muốn vào thành thì có các điềm lành ứng hiện như voi ngước mặt cất vòi lên rống, ngựa đều hý, bò rống; chim le, nhạn, uyên ương, công, anh võ (bồ-câu trắng), ngỗng trắng, thiên thu, chim… đều hót vang. Ðàn không hầu, đàn tranh, trống, đàn tỳ-bà, đàn, ống sáo,… không đánh tự phát âm nhạc. Vàng, bạc, thủy tinh, lưu ly, san hô, hổ phách, xa cừ, mã não trong kho các trưởng giả không ai đụng chạm mà tự phát ra tiếng. Người mù được sáng mắt, người điếc được nghe. Các nỗi đau khổ, bệnh tật như: mù lòa, què, khoèo chân, bướu cổ đều chấm dứt. Những kho tàng ẩn kín tự hiện ra.
Thế Tôn vào thành thì có những điềm lành như vậy xuất hiện.
Biết
Phật vào thành, vua Tần-bà-sa-la hết sức vui mừng, dòm qua khe hở ở trong ngục để chiêm ngưỡng Phật và chúng Tăng. Vốn đã đắc sơ quả nên khi thấy Thế Tôn vua liền hết ý tưởng đói khát.
A-xà-thế hỏi các cận thần:
– Vua cha còn sống không?
Ðáp:
– Còn sống.
Hỏi:
– Vì sao còn sống?
Các bề tôi ganh ghét tâu:
– Vua cha dòm qua khe hở ở trong ngục để chiêm ngưỡng Thế Tôn khi Thế Tôn vào thành nên vẫn còn sống.
Thái tử nói:
– Khanh hãy đến đó lấy kiếm bén cắt lòng bàn chân để ông ấy không còn đi được, rồi cùm chân lại.
Cận thần liền đến cắt lòng bàn chân vua và cùm lại làm vua ngày càng gầy ốm.
Khi ấy,
A-xà-thế vào cung ăn cơm với phu nhân. A-xà-thế có một đứa con nhỏ đang chơi đá gà ở bên ngoài. A-xà-thế hỏi phu nhân:
– Con đang ở đâu?
Ðáp:
– Ðang chơi đá gà ở bên ngoài.
Vua bảo phu nhân:
– Hãy gọi vào đây cùng ăn.
Cậu con liền ôm gà vào mà không chịu ăn.
Vua hỏi:
– Vì sao không ăn?
Ðáp:
– Nếu con gà này không ăn thì con quyết không ăn.
A-xà-thế bảo phu nhân rằng:
– Làm sao mà chịu được đứa bé này, dám bắt đại vương như ta ăn cơm chung với gà.
Phu nhân đáp:
– Có gì mà vua hiềm trách vậy? Có người vì con mà ăn cả máu mủ thì sao. Vua có nghe thái hậu kể lại sự khổ nhọc của phụ vương khi xưa hay chưa?
Vua hỏi phu nhân:
– Có gì là khổ?
Phu nhân đáp:
– Lúc vua còn nhỏ, ngón cái ở tay trái bị nhọt, đau đớn suốt đêm không thể ngủ được. Lúc ấy vua cha ẳm vua đặt lên đùi, ngậm ngón tay đau của vua trong miệng, ngón tay bớt đau và vua chợp mắt. Lúc đó, các mụt nhọt ở ngón tay vỡ ra, tuôn mủ trong miệng vua cha. Vua cha suy nghĩ: “Nếu ta rút ngón tay để nhổ mủ thì sợ rằng con ta sẽ bị đau”. Thế là vua cha liền nuốt mủ mà không rút ngón tay ra. Cha của vua có sự khổ nhọc như vậy, nhưng không hề nói cho ai biết. Xin vua hãy suy xét, chớ có giết vua cha.
Nghe lời ấy xong, vua im lặng không nói. Lúc ấy phu nhân cho là vua đã tha vua cha, liền ra ngoài nói rằng:
– Vua cha được tha rồi!
Lời ấy được lan truyền từ trong thành cho đến nhà giam, làm hàng vạn người đều hoan hỷ kêu lên:
– Lành thay! Lành thay!
Và đều chạy đến nhà giam, vừa chạy vừa nói:
– Vua đã được tha! Vua đã được tha!
Vua cha nghe lời ấy liền suy nghĩ: “Con ta hung ác, bất hiếu, chẳng biết còn định gây thêm cho ta nỗi khổ gì nữa đây?
Nghĩ xong, vua cha liền lao mình từ trên giường xuống đất chết lập tức.
Lúc ấy, vua A-xà-thế giết cha, mắc tội không ai cứu được.
Phật bảo các Tỳ-kheo:
– Trước đây Ta đã sai A-Nan nói rõ hành vi thân khẩu ý của Ðiều-đạt ở chợ chính là vì sự cố ngày nay. Người giết cha không thể đắc đạo, không được mặc pháp phục làm Tỳ-kheo, không được làm Tỳ-kheo ni, không được làm Ưu-bà-tắc, không được làm Ưu-bà-di, không được thọ bát quan trai. Vì sao vậy? – Người ấy không thể đắc Dự-lưu, không thể chứng quả.
Không chỉ giết cha, giết mẹ cũng vậy.
Tỳ-kheo nào biết mà cho họ vào đạo thì cũng giống như phá hoại Tăng vậy.
Phật cùng năm trăm Tỳ-kheo ở núi Kỳ-xà-quật, thuộc thành Vương-xá.
Lúc ấy,
Ðiều-đạt muốn phá hoại, gây rối chúng Tăng, Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên đến thuyết phục Ðiều-đạt:
– Chớ có phá hoại chúng Tăng. Vì sao vậy? – Vì Tăng phải hòa hợp như nước với sữa và học cùng một thầy.
Ðệ tử của Ðiều-đạt là Khiên-đà, Ðà-bà, Ca-lưu, La-đề-thi, Tam-môn-đà, La-hê-đầu bảo với Xá-lợi-phất:
– Các thầy chớ có nói với Ðiều-đạt bằng lời như vậy. Vì sao vậy? – Ðiều-đạt hướng về sự chơn chánh, đúng như pháp. Lời Ðiều-đạt nói, chúng tôi đều phụng hành.
Xá-lợi-phất nói với
Khiên-đà, Ðà-bà…. rằng:
– Chớ có nói rằng: “Ðiều-đạt đúng pháp, đúng luật”. Các thầy chớ có theo lời của Ðiều-đạt mà gây rối loạn chúng Tăng. Chớ có trợ giúp việc gây rối loạn ấy.
Vì sao vậy? – Tăng phải hòa hợp như nước với sữa và cùng học một thầy. Vì vậy chớ có phá hoại, gây rối loạn Tăng, chớ có trợ giúp người làm việc ấy.
Tuy được khuyên can như vậy, nhưng các Tỳ-kheo ấy không nghe và vẫn làm theo sự chỉ dạy của Ðiều-đạt. Xá-lợi-phất không biết làm sao, liền đến bạch Thế Tôn.
Nhân việc đó, Thế Tôn tập hợp chúng Tăng, vì muốn đầy đủ mười công đức nên kiết giới cho các Sa-môn:
–
Tỳ-kheo nào trợ giúp cho người phá hoại, gây rối loạn chúng Tăng thì phạm Tăng-già-bà-thi-sa.
Phật cùng năm trăm Tỳ-kheo ở tại núi Kỳ-xà-quật, thuộc thành Vương-xá.
Lúc ấy
Thế Tôn đắp y mang bát đi từ núi Kỳ-xà-quật vào thành Vương-xá khất thực.
Khất thực xong, Ngài trở về núi Kỳ-xà-quật, ngồi kiết-già trong hang đá suốt bảy ngày, nhập vào các chánh định.
Qua bảy ngày, Ngài đắp y mang bát từ núi Kỳ-xà-quật vào thành Vương-xá khất thực.
Ðiều-đạt nghe tin Sa-môn Cù-đàm đang ở núi Kỳ-xà-quật, thành Vương-xá. Vào giờ ăn, Sa-môn Cù-đàm cùng năm trăm đệ tử đắp y mang bát từ núi Kỳ-xà-quật vào thành Vương-xá khất thực. Khất thực xong lại trở về hang đá ngồi kiết-già, bảy ngày mới đứng dậy. Vua A-xà-thế có một con voi tên Vọng-già-bà mạnh bạo, hung dữ, vua các nước xung quanh không có con voi nào dữ như con Vọng-già-bà của vua A-xà-thế.
Lúc ấy,
Ðiều-đạt mang năm trăm lượng vàng đến gặp người dạy con voi Vọng-già-bà, bảo với ông ta rằng:
– Ông có biết rằng ta rất có uy tín đối với vua A-xà-thế không?
Ðáp:
– Biết.
– Ngươi có tin rằng ta có thể làm ngươi giàu có hay không?
– Có thể.
Ðiềøu-đạt liền đưa năm trăm lượng vàng và nói:
– Số tiền này ta dùng để thuê ông giúp ta làm việc này. Ta cũng sẽ nói vua cho ông ruộng vườn, chức tước.
– Việc gì vậy?
Ðiều-đạt nói:
– Sa-môn
Cù-đàm cùng năm trăm đệ tử đang ở núi Kỳ-xà-quật, thuộc thành Vương-xá.
Ðến giờ ăn, họ đắp y mang bát vào thành Vương xá khất thực. Khất thực xong, họ trở về núi Kỳ-xà-quật ngồi kiết-già bảy ngày mới đứng dậy. Khi họ vào thành La-duyệt-kỳ, ông hãy cho con voi Vọng-già-bà này uống rượu mạnh, cởi cái cùm bằng thép, thả cho nó đến giết Sa-môn Cù-đàm.
Người dạy voi nói:
– Ðó là việc nhỏ, không cần phải bận tâm. Khi việc ấy hoàn tất, xin đừng thất hứa.
Hàng ngày, người quản tượng co ngón tay đếm cho đến bảy ngày.
Khi ngày thứ bảy đã đến, ông ta đem rượu trắng mạnh cho con voi Vọng-già-bà uống, dùng cùm sắt cùm cho đứng yên, ẩn trong cửa thành để đợi Như Lai.
Thường pháp của chư Phật khi sắp vào thành thì có các điềm lành xuất hiện như: voi cất vòi lên rống, ngựa hý, bò rống; chim le, chim nhạn, uyên ương, chim công, vẹt, ngỗng trắng, thiên thu, chim hạc… đều hót. Ðàn không hầu, đàn tranh, trống, đàn tỳ-bà, đàn, sáo,… không đánh tự phát ra âm nhạc. Trong kho của các trưởng giả, các thứ như vàng, bạc, thủy tinh, lưu ly, san hô, hổ phách, xà-cừ, mã não… không đụng tự phát ra âm thanh.
Người mù được sáng, người điếc được nghe, mù lòa què quặt, khoèo chân, bướu cổ và đủ các thứ bệnh khổ khác dều chấm dứt. Kho tàng đang ẩn tự xuất hiện.
Khi Thế
Tôn vào thành có những điềm lành như vậy.
Biết
Phật sắp vào cửa thành, người quản tượng liền cởi cùm sắt thả voi ra. Hàng ngàn vạn người đều bỏ chạy để tìm chỗ yên ổn. Nhân dân sợ hãi, hoặc chạy vào nhà, hoặc leo lên lầu.
Voi chạy đến chỗ Như Lai, nhân dân nhìn theo kinh ngạc. Những người không tin Phật thì nói:
– Hãy giết Sa-môn ấy đi!
Người tin Phật thì nói:
– Con voi nhỏ này làm gì được Phật!
Có một trưởng giả trông thấy voi chạy, liền cỡi con voi khác, đến chỗ Phật trước, đảnh lễ sát đất, ngồi qua một phía, bạch Thế Tôn rằng:
– Voi Vọng-già-bà được cho uống rượu trắng say mèm và được cởi cùm sắt để hại Thế Tôn. Xin Thế Tôn hãy vào nhà này để tránh. Nếu đi trở ra khỏi thành con voi say đó sẽ làm hại Như Lai.
Thế Tôn bảo:
– Con voi này không thể hại ta. Không ai có thể giết được Thế Tôn.
Trông thấy Như Lai và các Tỳ-kheo, con voi nỗi sân dậm đất, gầm rống, giương ngà, căng rộng hai tai, cất cao vòi, cụp đuôi, chạy gấp đến chỗ Như Lai.
Các
Tỳ-kheo thấy voi chạy đến đều dựng tóc gáy, chạy tránh xa Như Lai, chỉ còn một mình A-Nan không chạy. Lúc ấy, voi đến trước Như Lai, Thế Tôn dùng tâm nhơn từ hướng về voi làm voi hết say và không còn sân hận nữa, quỳ hai chân xuống đất, dùng vòi liếm chân Như Lai. Thế Tôn đưa cánh tay màu vàng ròng xoa đầu voi mà nói kệ như cha nói với con:
– Con chớ sanh sân hận Muốn làm hại Như Lai Ai nổi sân với Phật Không được sanh đường lành Voi Y-la-bát-na Ở trong hai cung trời Cạnh ngọn núi Tu-di Nơi các voi chúa ở Trên đỉnh núi Linh-sơn Voi chúa A-nậu-đạt Ðều đảnh lễ Chánh giác Còn ngươi định hại Phật Các voi tu hạnh lành Nên được ở nơi ấy Ngươi say rượu hại Phật Sao sanh nơi ấy được!
Lúc ấy, voi Vọng-già-bà buồn rầu rơi lệ, đảnh lễ sát đất rồi đi, suốt bảy ngày không ăn cỏ mà chết, sanh lên cõi trời Tứ thiên vương.
Hàng ngàn vạn người thấy sự biến hóa này của Như Lai đều đến chỗ Phật. Lúc ấy, Thế Tôn quay lại bảo A-Nan:
– Ông hãy đi chuẩn bị giường và nước, Ta muốn rửa chân.
Vâng lệnh Phật, A-Nan liền đi trải giường, múc nước. Kế đó, A-Nan quỳ chân phải sát đất, bạch Thế Tôn rằng:
– Sàn và nước đã được chuẩn bị xong, xin Thế Tôn hãy đi rửa chân.
Rửa chân xong, Thế Tôn ngồi thiền định hiện các loại biến hóa: biến mất ở phương Ðông, xuất hiện ở phương Tây. Biến mất ở phương Bắc, hiện ra ở phương Nam.
Ngồi, nằm trên hư không. Thân phóng ánh sáng xanh, vàng, đỏ, trắng, hoặc màu lưu ly. Dưới chân phát ra lửa, trên thân phun ra nước. Trên thân phát ra lửa, dưới thân phun ra nước…
Sau khi biến hóa đủ cách, Ngài trở về chỗ cũ ngồi kiết-già.
Thấy Thế
Tôn biến hóa, nhân dân liền được khai mở tâm ý.
Lúc ấy,
Thế Tôn quán sát tâm ý của chúng sanh và thuyết đủ các pháp để thỏa ý nguyện của họ. Trong số những người ấy, có người phát sanh ý thần túc, có người phát tín căn, có người phát sanh pháp nhẫn, có người đắc quả Dự-lưu, Nhất-lai, Bất-hoàn, hoặc phát tâm Vô thượng Chánh chơn đạo, tâm Thanh văn, Bích Chi Phật, cả trăm vạn người đều được độ thoát.
Lúc ấy
Thế Tôn sợ không kịp giờ ăn nên dùng cánh tay phảị xốc nách A-Nan bay về núi Kỳ-xà-quật.
Lúc đó, năm trăm Tỳ-kheo đều đã chạy đến các hang núi, xin thức ăn của những người địa phương. Khất thực xong, họ trở về tinh xá, cất y và đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ sát đất, ngồi qua một phía. Các Tỳ-kheo bạch Thế Tôn:
– Thật là kỳ lạ! Thấy con voi lớn đến, A-Nan vẫn không rời bỏ Thế Tôn.
Thế Tôn bảo:
– Không chỉ ngày nay mà trước kia cũng vậy. Hãy chú ý, Ta sẽ kể cho nghe.
Ngày xưa, cách đây lâu lắm, có một con nai chúa tên Thất-lợi-mạt cùng năm trăm con nai sinh sống ở núi Tuyết.
Lúc ấy có một người thợ săn, giăng một cái bẩy dây lớn dưới lớp cỏ. Nai chúa đi trước bị vướng chân trái vào bẩy. Nai chúa nghĩ: “Nếu nói với các con nai là ta dính bẩy thì các con nai sẽ không ăn được”.
Khi các con nai đã ăn no, nai chúa liền nói:
– Ta đã bị mắc bẩy.
Nghe nói vậy, các con nai đều bỏ chạy, chỉ có một con nai là không bỏ nai chúa Thất-lợi-mạt. Con nai ấy tâu với nai chúa rằng:
– Hãy cố gắng thoát thân. Thợ săn đang đến.
Ðáp:
– Ta đã kiệt sức, sợi dây siết chặt vào thịt, không thể thoát được, chẳng biết làm sao đây.
Khi thợ săn đến, con nai nọ nói:
– Hãy cầm dao giết tôi trước rồi mới giết nai chúa.
Thợ săn suy nghĩ: “Lời này thật kỳ lạ! Cầm thú mà lại biết chết thay cho người khác”.
Thợ săn bèn nói với nai:
– Ta không giết ngươi, cũng không giết chúa của ngươi. Ta sẽ tháo bẩy thả chúa ngươi đi.
Nói xong, thợ săn liền tháo bẩy thả nai.
Phật bảo các Tỳ-kheo:
– Nai chúa lúc ấy chính là Ta. Năm trăm con nai nay là năm trăm Tỳ-kheo. Lúc ấy chúng bỏ ta, nay lại bỏ ta. Thợ săn lúc ấy nay là voi Vọng-già-bà, xưa kia không đụng đến Ta và nay cũng vậy. Con nai ở lại lúc ấy nay là A-Nan, xưa không bỏ Ta, nay cũng không bỏ Ta.
Nhân việc đó, Thế Tôn lại kể chuyện túc sanh khác:
– Cách thành Ba-la-nại-tư không xa, có ao nước tên Kiết-vũ, đầy ắp nước, có nhiều cá, ba-ba, nhiều nhạn, uyên ương… Có con nhạn chúa tên Ðề-đề-lại-trú, dẫn theo năm trăm con nhạn đến vui đùa ở ao ấy. Lúc ấy, có thợ săn giăng lưới bắt nhạn. Nhạn chúa bị mắc lưới, liền nghĩ: “Nếu ta nói ta dính lưới thì các con nhạn không ăn được”. Khi các con nhạn ăn xong, nhạn chúa liền nói:
– Ta bị mắc lưới.
Nghe vậy, các con nhạn đều kinh hoảng bay mất, chỉ có một con nhạn tên Tu-mặc ở lại không đi.
Nhạn chúa bảo Tu-mặc:
– Ta đã bị mắc lưới, khanh hãy thay ta làm vua.
Tu-mặc đáp:
– Thần không thể thay vua.
Vua hỏi:
– Vì sao không thể thay thế?
Tu-mặc nói kệ đáp:
– Thà cùng chết với vua
Hơn sống không có vua
Sống chết phải có nhauKhông dám thoát một mình.
Nhạn chúa tìm cách thoát thân nhưng không được. Thợ săn đã đến. Tu-mặc nói với thợ săn bài kệ:
– Máu thịt nhạn chúa
Chẳng khác gì tôi
Hãy giết tôi trước
Tha cho nhạn chúa.
Thợ săn liền suy nghĩ: “Chim nhạn này thật là kỳ lạ mới có ý muốn chết thay người khác”. Ông ta nói kệ đáp:
– Ngươi mang hình chim thú
Dám chết thay cho chủ
Nay ta không giết ngươi
Cũng không hại chủ ngươi
Ta sẽ mở lưới thả
Cho ngươi bay tự do.
Thợ săn liền mở lưới thả chim. Lúc ấy, nhạn chúa lùi lại bàn với nhạn tùy tùng:
– Người này rất nhơn từ, đã cứu ta khỏi chỗ chết. Nếu người ấy giết thì ai sẽ đến cứu ta?
Thợ săn đến hỏi:
– Các ngươi nói gì? Ta đã thả sao các ngươi không mau bay đi?
Ðáp:
– Chúng tôi không thể đi. Chúng tôi đang bàn cách báo ơn ông.
Thợ săn hỏi:
– Ngươi là chim thú, làm sao báo ân?
Nhạn chúa đáp:
– Hãy mang chúng tôi đến chỗ vua Phạm-ma-đạt ở thành Ba-la-nại. Ðến nơi ấy chúng tôi sẽ báo ơn.
Thợ săn hỏi:
– Ðến đó, nếu bị họ làm tổn thương, các ngươi sẽ làm cách nào?
Nhạn đáp:
– Việc đó không đáng lo. Cứ việc mang chúng tôi đi đi.
Thợ săn liền bế các con nhạn vào thành, đi từ chợ đến cửa cung vua. Trên đường đi, các thương nhơn thấy con nhạn đáng yêu, liền đem năm tiền, mười tiền, hoặc hai mươi tiền biếu cho thợ săn. Khi gần đến cửa cung vua thì thợ săn đã nhận được hàng ngàn tiền.
Lúc đó, thợ săn ẳm con nhạn thả ở cửa cung vua. Nhạn chúa bảo người giữ cổng:
– Nhạn chúa Ðề-đề-lại-tra đang ở cổng, xin cầu kiến.
Người gác cổng vào tâu vua. Vua bảo:
– Cho vào.
Lúc ấy, vua Phạm-ma-đạt bày giường vàng cho nhạn chúa ngồi. Tu-mặc theo hầu phía sau. Nhạn chúa nói kệ hỏi thăm vua có được yên ổn không, có mạnh khỏe không, binh mã trong nước có hùng mạnh không, nhân dân có dễ cai trị không?
Vua Phạm-ma-đạt nói kệ đáp lời:
– Khanh từ xa đến đây, vượt biển, vượt núi, trải qua một hành trình dài có mệt mỏi không?
Lúc ấy, hai vua cùng nhau nói năm trăm bài kệ, còn con nhạn Tu-mặc thì im lặng không nói.
Vua Phạm-ma-đạt hỏi:
– Vì sao khanh im lặng vậy?
Tu-mặc đáp:
– Một là vua loài người, một là vua loài nhạn. Hai vua cùng nói chuyện nên thần không dám xen vào.
Vua
Phạm-ma-đạt bảo nhạn chúa rằng:
– Xin hãy nhận lời ta. Hãy cư trú trong vườn cây, ao nước ở nơi này. Ta sẽ cung cấp đồ ăn uống.
Nhạn chúa không dám nhận lời mời đó.
Phạm-ma-đạt hỏi:
– Vì sao không nhận?
Nhạn chúa đáp:
– Vua uống rượu say, sai đầu bếp giết nhạn. Nếu không có con nào khác thì họ sẽ bắt chúng tôi giết. Vì vậy chúng tôi không dám ở lại.
Nghe tin nhạn chúa ở chỗ vua Phạm-ma-đạt, năm trăm con nhạn liền dẫn nhau đến bay liệng trên cung. Vua hỏi:
– Ðó là nhạn gì?
Nhạn chúa đáp:
– Ðó là đồ chúng của tôi.
Vua hỏi:
– Khanh thật sự muốn đi phải không?
Ðáp:
– Thật sự.
– Khanh có cần gì không?
Nhạn chúa nói:
– Tôi không cần gì. Chỉ có người kia đã ôm tôi đến đây. Xin vua hãy ban cho anh ta vàng bạc, thức ăn uống, châu báu và các thứ cần dùng.
Nói xong, nhạn liền bay lên cao.
Phật bảo các Tỳ-kheo:
– Lúc ấy, nhạn chúa Ðề-đề-lại-tra chính là Ta. Năm trăm con nhạn bỏ ta mà đi, nay là năm trăm Tỳ-kheo đã bỏ chạy. Vua Phạm-ma-đạt lúc ấy, nay là Thâu-đầu-đàn-thích, khi ấy đã thả Ta đi, nay lại cho Ta xuất gia. Thợ săn lúc ấy, nay là voi Vọng-già-bà, lúc ấy đã không hại Ta, nay cũng không động đến Ta. Nhạn Tu-mặc theo hầu Ta lúc ấy, nay là A-Nan, xưa đã không bỏ Ta, nay cũng không rời Ta.
Các
Tỳ-kheo hãy nghe tiếp:
– Cách đây rất lâu, có con sư tử chúa dẫn theo năm trăm sư tử đi ở trên núi Tuyết, sư tử chúa đã già, các căn rã rời, mắt lòa không thấy đường.
Lúc ấy, sư tử chúa đi trước bầy sư tử và bị rơi xuống một cái giếng trống rỗng.
Năm trăm con sư tử đều bỏ đi.
Cách giếng không xa có một con cáo, thấy sư tử rơi xuống giếng liền suy nghĩ:
“Lúc có vị vua này, ta thường được no đủ. Ta phải nghĩ cách giúp ông ấy ra khỏi giếng”.
Cách giếng không xa có một con sông lớn. Cáo liền đào hang dẫn nước vào giếng.
Nước mỗi lúc một nhiều và nâng sư tử lên. Cuối cùng sư tử cũng được ra khỏi giếng. Thần núi liền nói kệ khen:
– Người nào có bạn bè
Không cần chọn mạnh yếu
Như con cáo bé nhỏ
Cứu sư tử khỏi giếng.
Nói bài kệ này xong, vị thần biến mất.
Phật bảo các Tỳ-kheo:
– Sư tử lúc ấy nay chính là Ta. Năm trăm sư tử bỏ đi lúc ấy, nay là năm trăm Tỳ-kheo. Con cáo lúc ấy nay là A-Nan. Ðó là người bố thí, tinh tấn, không làm việc ác. Người nào phát tâm hướng đạo thì sanh ở đâu cũng không gặp việc ác.
Phật ở tại vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.
Lúc ấy,
Tỳ-kheo Mã-sư, Phất-na-bạt du hành ở vườn Ca-la, thuộc nước Na-kiệt-đề và cư trú ở trong nhà bạch y, làm các việc xấu. Những người ở các làng gần đấy không ai không nghe.
Lúc ấy,
Phật sai tôn giả A-Nan đến nước Kế-thi khất thực, du hóa trong sáu mươi ngày. Sau khi A-Nan đi, Phật bay lên trời thuyết pháp cho mẹ suốt bốn tháng.
Lúc ấy, tôn giả A-Nan đi du hóa khất thực trong sáu mươi ngày, dần dần đến nước Na-kiệt-đề. Vào sáng sớm, vị ấy đắp y mang bát vào thành khất thực nhưng không được gì, phải trở về với chiếc bát không.
Lúc ấy
Ưu-bà-tắc tên Kiếp-phủ vào trong thành. Trông thấy tôn giả A-Nan ra khỏi thành, ông ta liền đảnh lễ sát chân A-Nan, chấp tay bạch A-Nan rằng:
– Lâu lắm mới gặp lại Ngài. Ngài du hành giáo hóa có mệt nhọc không? Ðến đây khi nào vậy?
Tôn giả
A-Nan đáp lời Ưu-bà-tắc Kiếp-phủ:
– Hiền giả biết không? Buổi sáng, tôi đắp y mang bát vào đây khất thực, nhưng không được gì. Hay là ở đây có Thích tử nào đã làm mất lòng tin của Ưu-bà-tắc, làm việc chẳng phải của Sa-môn, vi phạm các nghiệp thân, miệng, ý, phải không?
Ưu-bà-tắc đáp:
QUYỂN THỨ NĂM PHẦN THỨ BA CỦA PHÁP TĂNG-TÀN NÓI VỀ GIỚI PHÁ TĂNG – PHẦN 2
– Trong vườn Ca-la, ở đây có hai Tỳ-kheo là Mã-sư và Phất-na-bạt, thường đến ngủ ở nhà bạch y, làm các việc xấu. Những người ở những làng gần đây không ai là không nghe thấy. Họ cùng với phụ nữ ngồi chung một giường chiếu, ăn chung một bát, uống chung một ly, xếp Tăng-già-lê cất trên giá, rồi cùng phụ nữ ca, múa, chơi đàn cầm, khảy đàn tỳ-bà, tát má, vuốt miệng, đeo vòng hoa, cắm hoa trên tóc mai, hoặc đeo chuỗi anh lạc thơm, đắp y lụa ngũ sắc, cùng nhau đến nhà dâm nữ, mai mối nam nữ, hoặc mặc áo quần thế tục, chơi đùa với năm loại binh, hoặc chơi bắn cung tên, quăng ném, níu kéo, xốc nhau ném lên bàn, hoặc cùng nhau chạy, hoặc cởi voi, ngựa ra vào vườn, chẳng lúc nào ngưng… Giờ ăn đã đến, xin thỉnh đại đức đến nhà con thọ thực.
Tôn giả
A-Nan im lặng nhận thỉnh.
Khi tôn giả A-Nan đã đến nhà, ngồi vào bàn, Ưu-bà-tắc ấy tự tay dâng nước rửa tay, dọn đồ ăn uống.
Khi đã ăn xong, A-Nan rửa tay, rửa mặt rồi thuyết pháp cho Kiếp-phủ nghe. Sau đó, vị ấy rời khỏi chỗ ngồi, đi du hành dần dần đến vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc ở nước Xá-vệ, đem việc ấy bạch đầy đủ với Thế Tôn.
Do việc ấy,
Thế Tôn tập hợp chúng Tăng, vì muốn đủ mười công đức nên kiết giới cho Sa-môn:
–
Tỳ-kheo nào ở tại nhà bạch y, làm các việc xấu như trên… phạm Tăng-già-bà-thi-sa.
Phật ở tại vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.
Lúc ấy, Tỳ-kheo
Xiển-nộ chấp chặt, ngoan cố, rất khó giáo hóa. Ông ấy nói với các Tỳ-kheo:
– Các thầy chớ có nói với tôi điều gì tốt hoặc xấu. Tôi cũng không nói với các thầy điều gì tốt hoặc xấu.
Lúc ấy, các Tỳ-kheo bảo Xiển-nộ:
– Tuy thầy không nói việc tốt việc xấu của tôi. Tôi cũng không nói việc tốt việc xấu của thầy. Nhưng thầy phải nói pháp lành và luật mà thầy biết cho các Tỳ-kheo. Các Tỳ-kheo cũng nói pháp và luật cho thầy nghe. Có như vậy thì hạt giống Phật mới được tăng trưởng.
Các Tỳ-kheo thay nhau dạy dỗ, khuyên răn:
– Thầy là người làm việc xấu, chớ có chấp chặt ý thầy, chớ có giữ tâm ấy.
Nhưng
Tỳ-kheo Xiển-nộ không nghe theo. Các Tỳ-kheo nói:
–
Xiển-nộ này thật khó giáo hóa!
Các
Tỳ-kheo không biết làm sao, liền đến bạch Thế Tôn:
– Nhân việc ấy, Thế Tôn tập hợp chúng Tăng, vì muốn đầy đủ công đức nên kiết giới cho các Sa-môn:
–
Tỳ-kheo nào ngoan cố không nhận lời can ngăn, dạy dỗ như Tỳ-kheo Xiển-nộ thì phạm Tăng-già-bà-thi-sa.
Phật bảo các Tỳ-kheo:
– Sau khi Ta Niết-bàn thì Tỳ-kheo Xiển-nộ sẽ nhận sự giáo hóa.
Ưu-ba-ly hỏi Thế Tôn:
– Thế nào là Tăng-già-bà-thi-sa?
–
Tăng-già-bà-thi-sa là có lo sợ đối với chúng Tăng, có lo sợ đối với Thánh đạo, có ước mong chứng quả, có lo sợ về sự hối lỗi. Khi hối lỗi phải tập hợp hai mươi vị Tăng, phải tự hối lỗi sáu đêm, lễ lạy năm vóc sát đất, không được che giấu việc đã phạm, để Tăng quyết đoán. Do như vậy nên gọi là Tăng-già-bà-thi-sa.
TỲ NẠI DA
Hết quyển năm
QUYỂN THỨ SÁU HAI PHÁP BẤT ÐỊNH VÀ BA MƯƠI PHÁP XẢ ÐỌA
Phật ở tại vườn Kỳ-thọ Cấp Cô Ðộc, thuộc nước Xá-vệ.
Lúc ấy, tôn giả Ca-lưu-đà-di thường đến nhà Ưu-bà-di Phù-đới và cùng cô ta ngồi ở nơi kín đáo. Ưu-bà-di Phù-đa (đới) muốn làm việc bất tịnh nên cùng ngồi chung một chỗ. Ca-lưu-đà-di cũng đồng ý nhưng sợ phạm giới nên không dám làm.
Thấy vậy, các trưởng giả ở nhà bên cạnh nói với nhau:
– Sa-mô chỗ kín, ắt là có lý do.
Các
Tỳ-kheo đầu-đà đến bạch với Thế Tôn đầy đủ việc ấy. Thế Tôn biết mà vẫn hỏi Ưu-đà-di:
– Việc ấy có thật không?
Ưu-đà-di bạch Phật:
– Ðúng vậy, thưa Thế Tôn:
– Nhân việc đó, Thế Tôn tập hợp chúng Tăng hòa hợp, đủ mười công đức để kiết giới cho Sa-môn:
–
Tỳ-kheo nào cùng người nữ ngồi ở chỗ kín, có người nữ nói, phạm một trong ba pháp Ba-la-di, Tăng-già-bà-thi-sa và Ba-dật-đề; và Tỳ-kheo ấy chấp nhận đã phạm ba pháp ấy, hoặc Ba-la-di, hoặc Tăng-già-bà-thi-sa, hoặc Ba-dật-đề. Ðó là phạm Bất định.
Lúc ấy,
Ca-lưu-đà-di lại đến nhà Ưu-bà-di Phù-đới, đem ghế ra cùng ngồi nơi đất trống. Ở nơi trống trải ấy, Ưu-bà-di ấy định ôm thân của Ca-lưu-đà-di kéo lại cùng ngồi một chỗ. Ca-lưu-đà-di muốn làm theo nhưng lại sợ phạm giới.
Các trưởng giả thấy vậy liền nói với nhau: – Sa-môn Thích tử thường tự ca ngợi là tinh tấn, độc thân mà nay lại cùng người nữ ngồi nói chuyện ở nơi đất trống, ắt là có lý do.
Nghe vậy, các Tỳ-kheo đầu-đà đến bạch đầy đủ với Thế Tôn, Thế Tôn bảo:
–
Tỳ-kheo nào cùng phụ nữ mang ghế cùng ngồi ở đất trống, có phụ nữ nói, phạm hai pháp Tăng-già-bà-thi-sa, Ba-dật-đề và Tỳ-kheo ấy chấp nhận đã phạm hai pháp ấy. Ðó là pháp Bất định.
Thế Tôn ở tại vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.
Lúc ấy,
Thích tử Bạt-nan-đà tích chứa y áo, để lâu đến độ hư mục, bị trùng, mọt, chuột gậm nhấm. Thấy vậy, các trưởng giả đều hiềm hận, tự nói với nhau:
– Sa-môn
Thích tử lẽ ra nên tiết kiệm y áo, nay lại tích chứa y áo lâu đến độ bị hư mục, bị trùng, mọt, chuột gậm nhấm.
Thấy vậy, các trưởng giả bảo với các Tỳ-kheo đầu-đà, các Tỳ-kheo không biết trả lời làm sao, liền đến bạch đầy đủ với Thế Tôn. Nhân việc đó, Thế Tôn tập hợp chúng Tăng hòa hợp, đủ mười công đức kiết giới cho Sa-môn:
–
Tỳ-kheo nào có ba y và y công đức đã hết thời hạn thì phải trì giữ cho đến hết đời. Nếu nhận quá thì phạm Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề.
Phật ở tại vườn Trúc Ca-lan-đà, thuộc thành Vương-xá.
Lúc ấy
Ma-ha-kế-diệp ở núi Kỳ-xà-quật. Vì một việc nhỏ của Tăng, Ma-ha-kế-diệp không đắp y Tăng-già-lê mà đến vườn Trúc. Lúc ấy, trời mưa dầm nên vị ấy không trở về núi Kỳ-xà-quật được. Ðến sáng, vị ấy mới trở về hang đá. Vị ấy phân vân không biết mình có bị mất Tăng-già-lê không, liền đến bạch với Thế Tôn. Thế Tôn bảo:
– Nếu
Tỳ-kheo không đắp ba y và y công đức đã hết thời hạn mà đến ngủ đêm ở nhà người khác, không mang theo Tăng-già-lê, y thượng, y hạ – trừ khi được Tăng cho phép – thì phạm Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề.
Phật ở tại vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.
Lúc ấy có Tỳ-kheo ni Ðạt-mộ-đề-na cùng các Tỳ-kheo ni kiết hạ ở Xá-vệ. Những người binh sĩ của vua Ba-tư-nặc cư trú trong vườn, gần chỗ các Tỳ-kheo ni.
Những binh sĩ này nhận lương của vua Ba-tư-nặc, ngày ngày đánh bạc, tiêu dùng phung phí nên không đủ nuôi thân và các bà vợ không đủ áo che thân.
Hàng ngày, các Tỳ-kheo ni đều nghe họ đùa giỡn.
Một buổi sáng nọ, Tỳ-kheo ni Ðạt-mộ-đề-na liền đến nhà vợ các binh sĩ, hỏi các cô ấy:
– Vì sao y áo xấu và không đủ che thân vậy?
Các cô ấy đáp:
– Bổng lộc chỉ đủ ăn, không đủ sắm y áo.
Tỳ-kheo ni nói:
– Lương bổng nhận được hãy dùng một nửa để sắm y và thức ăn, một nửa đem bố thí.
Các phụ nữ đáp:
– Xin vâng theo lời dạy của Như Lai.
Lúc ấy, khi nhận được lương bổng, họ để dành một nửa để sắm y áo và thức ăn, một nửa đem bố thí. Nhờ thế, nhà các binh sĩ dần dần giàu có, y áo và đồ ăn dồi dào, y áo họ mặc khác hẳn mọi người.
Các phụ nữ liền nói với nhau:
– Tiền của mà chúng ta có ngày nay là nhờ ơn của Tỳ-kheo ni Ðạt-mộ-đề-na. Chúng ta phải cùng nhau báo ân.
Các phụ nữ liền nói với chồng mình:
– Chúng ta giàu có là nhờ Tỳ-kheo ni Ðạt-mộ-đề-na. Tôi muốn xin cúng dường các cô ấy trong bốn tháng hạ các món ăn ngon, tinh khiết.
Chồng bảo vợ:
– Rất tốt!
Các binh sĩ đó liền đến chỗ Tỳ-kheo ni Ðạt-mộ-đề-na, đảnh lễ sát đất ngồi qua một phía. Tỳ-kheo ni liền thuyết pháp cho họ. Sau khi thuyết pháp xong, cô ấy im lặng không nói. Lúc ấy, các binh sĩ rời khỏi chỗ ngồi, quỳ xuống, chấp tay bạch với các Tỳ-kheo ni rằng:
– Từ nay trở đi, chúng con xin quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, nguyện làm Ưu-bà-tắc trọn đời không sát sanh. Nguyện các sư cô nhận sự cúng dường của chúng con trong bốn tháng hạ.
Các
Tỳ-kheo ni đáp:
– Phật đang ở tại Kỳ-hoàn, hãy đến thỉnh Phật trước, rồi chúng tôi mới dám nhận lời.
Các binh sĩ đáp:
– Chúng con sẽ đến thỉnh.
Các binh sĩ liền đến vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, đảnh lễ sát đất rồi ngồi qua một phía.
Thế Tôn nói cho họ nghe đủ các pháp. Sau khi nghe thuyết pháp, họ bạch Thế Tôn rằng:
– Xin
Thế Tôn và chúng Tăng cho chúng con được cúng dường trong bốn tháng hạ ở vườn này.
Thế Tôn im lặng nhận lời.
Thấy Thế
Tôn im lặng nhận lời, các binh sĩ rời khỏi chỗ ngồi, đảnh lễ sát đất, nhiễu Phật ba vòng rồi trở về nhà, chuẩn bị đồ ăn uống cho các Tỳ-kheo trong bốn tháng.
Biết đã sắp đến ngày kiết hạ, Thế Tôn liền dẫn các Tỳ-kheo đến nơi ấy kiết hạ bốn tháng. Các binh sĩ cúng dường Phật và chúng Tăng y áo, đồ ăn uống, thuốc trị bệnh trong bốn tháng.
Biết Phật không uống nước chưa lọc, các binh sĩ thường mang dụng cụ lọc nước treo cạnh túi đựng cung tên.
Lúc ấy, ở biên giới của vua Ba-tư-nặc có quân phản nghịch. Vua cho triệu tập các binh sĩ và bảo:
– Các khanh hãy công phạt quân phản nghịch ấy.
Các binh sĩ đáp:
– Xin vâng lệnh vua.
Lúc ấy các đại thần tâu với vua rằng:
– Vua sai các binh sĩ ấy đi công phạt, chắc là không xong.
Vua hỏi:
– Vì sao không xong?
Bề tôi đáp:
– Các binh sĩ ấy chẳng dám uống nước chưa lọc, trùng nhỏ còn không giết thì làm sao có thể công phạt.
Vua hỏi các binh sĩ:
– Các ông chắc không làm hỏng việc của ta chứ?
Binh sĩ đáp:
– Chẳng biết có việc gì vậy, thưa đại vương?
Vua hỏi:
– Nghe nói các khanh không dám uống nước chưa lọc. Trùng nhỏ còn vậy thì làm sao có thể công phạt sinh mạng lớn?
Các binh sĩ đáp:
– Trùng nhỏ ấy không có lỗi đối với vua. Nếu chúng phạm phép vua thì chúng thần cũng giết không tha.
Lúc ấy, vua liền suy nghĩ: “Những người này thật là sạch sẽ nên không uống nước chưa lọc”.
Lúc đó các binh sĩ bảo với nhau:
– Ðã cúng dường Thế Tôn và chúng Tăng mọi thứ nhưng chưa cúng dường y. Sợ rằng đi chinh chiến bị chết không trở về được, chúng ta hãy cúng dường y ngay bây giờ.
Họ liền đánh kiền-chùy để tập hợp các Tỳ-kheo, chỉ có Phật không đến. Các binh sĩ liền đem y cúng dường cho chúng Tăng nhưng chúng Tăng không nhận vì sợ phạm lỗi chứa y dư. Các binh sĩ ép họ phải nhận. Các Tỳ-kheo không biết làm sao, liền đến bạch Thế Tôn.
Thế Tôn bảo:
– Ðược nhận y bằng lòng từ bi.
Nhân việc ấy, Thế Tôn kiết giới cho Sa-môn:
–
Tỳ-kheo nào đã có ba y và y công đức đã hết thời hạn mà được y dư thì được phép nhận và cất chứa trong một tháng. Quá một tháng phải cho người khác.
Nếu cất chứa quá một tháng thì phạm Ny-tát-kỳ-ba-dật-đề.
Lúc ấy các binh sĩ đã đạt được tâm từ, liền đi chinh phạt. Khi hai bên giao đấu, họ liền nhập vào tam muội từ bi, quân địch liền thối lui vì người nhập vào tam muội từ bi thì lửa không thể đốt, dao chém không đứt, uống thuốc độc không chết, không ai có thể giết được.
Nghe tin các binh sĩ đã chinh phạt xong quân phản nghịch, vua Ba-tư-nặc liền tăng thêm ruộng vườn, bổng lộc lên gấp bội.
Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.
Vào sáng sớm, Tỳ-kheo ni A-la-tì đắp y mang bát vào thành Xá-vệ khất thực. Khất thực xong, cô ấy ra khỏi thành, cất y bát, rửa chân, đặt tọa cụ lên vai, đến núi An-đà-bà trải tọa cụ dưới một gốc cây và ngồi kiết-già.
Lúc ấy có bọn cướp vừa cướp được của cải và trốn lên núi này. Tên cầm đầu bọn cướp tin tưởng Phật, Pháp, Tăng, trông thấy Tỳ-kheo ni ngồi tọa thiền dưới gốc cây, nhan sắc xinh đẹp, các căn lặng lẽ, tướng cướp ấy hết sức vui mừng, liền mang một miếng thịt đến cúng dường Tỳ-kheo ni.
Tỳ-kheo ni đáp:
– Tôi chỉ ăn ngày một bửa, quá giờ không ăn nữa.
Tướng cướp càng thêm vui nên lấy một tấm vải trắng mịn gói miếng thịt ấy treo trên cây và nói rằng:
– Nếu có
Sa-môn, Bà-la-môn nào nhận thì xin cúng toàn bộ.
Nói xong, họ ra khỏi núi.
Tỳ-kheo ni suy nghĩ: “Tướng cướp nói lời ấy và để lại vải và miếng thịt là vì ta”.
Sáng sớm hôm sau, Tỳ-kheo ni mang miếng thịt ấy vào vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, cúng miếng thịt ấy cho nhà bếp để nấu cho các Tỳ-kheo dùng, rồi vắt tấm vải trên vai mà đi ra. Thấy vậy, Thích tử Bạt-nan-đà hỏi:
– Này chị! Từ đâu mà có được tấm vải xinh đẹp sạch sẽ như vậy? Chị có thể để lại cho tôi không?
Tỳ-kheo ni không dám trái lời, liền trao tấm vải cho Thích tử Bạt-nan-đà.
Bạt-nan-đà bảo các Tỳ-kheo:
–
Tỳ-kheo ni ấy cho tôi tấm vải này.
Lúc ấy,
Tỳ-kheo ni suy nghĩ: “Ðã vào thành mà chẳng thăm Thế Tôn đã vội trở về thì chẳng có lễ phép”. Cô ấy liền đến chỗ Thế Tôn với y áo rách nát.
Thấy
Tỳ-kheo ni ấy đến, Thế Tôn quay lại bảo A-Nan:
– Ông hãy lấy một tấm y dư cho Tỳ-kheo ni này.
A-Nan liền lấy tấm y đã xả trao cho Tỳ-kheo ni. Tỳ-kheo ni đắp y vào rồi đến chỗ Phật, đảnh lễ sát đất, đứng qua một phía. Thế Tôn liền nói pháp cho cô ấy nghe. Nói pháp xong, Thế Tôn bảo:
– Cô hãy trở về đi.
Cô ấy liền đảnh lễ Thế Tôn rồi ra đi.
Tỳ-kheo ni vừa ra đi, Phật liền hỏi A-Nan:
– Vì sao
Tỳ-kheo ni này mặc y áo rách rưới như vậy?
A-Nan bạch Phật:
–
Tỳ-kheo ni này vừa có một tấm vải nhưng đã bị Bạt-nan-đà đoạt lấy.
Nhân việc ấy, Thế Tôn liền tập hợp chúng Tăng và bảo các Tỳ-kheo:
– Vì sao y của Tỳ-kheo ni đã hư rách mà Tỳ-kheo lại đoạt y mới của cô ấy?
Sau khi dùng vô số phương tiện dạy dỗ, quở trách các Tỳ-kheo, Thế Tôn liền kiết giới cho Sa-môn:
–
Tỳ-kheo nào đoạt lấy hoặc theo xin y của Tỳ-kheo ni không bà con – trừ trao đổi – thì phạm Ny-tát-kỳ-ba-dật-đề.
Thế Tôn ở tại vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.
Bấy giờ
Ca-lưu-đà-di kết thân với Tỳ-kheo ni Quật-đa. Ca-lưu-đà-di đi du hóa hai tháng. Sau hai tháng du hóa, vị ấy trở về Xá-vệ.
Nghe tin
Ca-lưu-đà-di đã du hóa xong và trở về Xá-vệ, Tỳ-kheo ni Quật-đa liền tắm rửa sạch sẽ, lấy dầu thơm thoa lên đầu, lại bôi phấn sáp trang điểm mặt, đánh răng thật trắng, đắp y mới rồi đến chỗ Ca-lưu-đà-di, đảnh lễ sát đất rồi ngồi trước vị ấy, nhìn chăm chú Ca-lưu-đà-di. Ca-lưu-đà-di cũng nhìn chăm chú Tỳ-kheo ni.
Ca-lưu-đà-di rời khỏi chỗ ngồi, chỉ mặc y hạ và đi phía trước. Tỳ-kheo ni cũng chỉ đắp một y và đi theo sau Ca-lưu-đà-di, nhưng không để cho thân đụng nhau vì sợ phạm giới.
Ca-lưu-đà-di phát sanh ý dâm dục quá mạnh, liền xuất tinh làm dơ y hạ.
Biết Tỳ-kheo ấy bị xuất tinh, Tỳ-kheo ni liền lấy một tấm y hạ đưa cho Tỳ-kheo ấy thay. Thay y xong, Ca-lưu-đà-di liền đưa y dơ cho Tỳ-kheo ni giặt.
Tỳ-kheo ni đem y đến nơi vắng để giặt, lấy giọt tinh dịch uống một nửa, còn một nửa rưới vào âm đạo. Sau đó cô ấy liền mang thai và bụng càng ngày càng lớn. Các Tỳ-kheo ni mắng:
– Này
Tỳ-kheo ni xấu xa kia! Cô chẳng phải mới làm Tỳ-kheo ni, cô đã vào đạo từ nhỏ, vậy do đâu mà mang thai?
Các
Tỳ-kheo ni liên tục trách mắng cô ấy. Tỳ-kheo ni Quật-đa liền thuật lại đầu đuôi câu chuyện. Các Tỳ-kheo ni không biết phải làm sao, liền đến bạch đầy đủ với Thế Tôn. Thế Tôn bảo:
– Các cô chớ có cho rằng Tỳ-kheo ni Quật-đa đã phạm giới. Vì sao vậy? – Phạm hạnh cô ấy hoàn toàn trong sạch. Chớ có nghĩ xấu Tỳ-kheo ni Quật-đa.
Sau tám chín tháng, cô ấy sanh được một cậu con trai nhan sắc xinh đẹp. Nghe tin cô ấy sanh con trai, các Tỳ-kheo ni đến bạch đầy đủ với Thế Tôn. Nhân việc ấy, Thế Tôn kiết giới cho các Tỳ-kheo ni:
–
Tỳ-kheo ni không được ngủ đêm một mình. Hai Tỳ-kheo ni thì được. Không được ngủ đêm với người nam. Ðược phép ngủ chung phòng với Tỳ-kheo ni Quật-đa.
Các
Tỳ-kheo ni bạch Phật:
– Bạch
Thế Tôn! Vừa rồi Ngài dạy không được phép ngủ chung phòng với người nam.
Nay cô ấy có con trai thì làm sao ngủ chung được?
Thế Tôn đáp:
– Trẻ con chưa dứt sữa thì được ngủ chung. Sau khi dứt sữa thì không được ngủ chung.
Các
Tỳ-kheo ni thọ giáo xong liền trở về.
Nhân việc ấy, Thế Tôn tập hợp chúng Tăng hòa hợp để kiết giới cho Sa-môn:
–
Tỳ-kheo nào nhờ Tỳ-kheo ni không phải thân quyến giặt y dơ, hoặc nhuộm, hoặc ủi cho mới thì phạm Ny-tát-kỳ-ba-dật-đề.
Phật ở tại vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.
Lúc ấy nhóm sáu Tỳ-kheo thường đến nhà trưởng giả xin y. Các trưởng giả hiềm trách, phiền muộn nên nói với nhau:
– Sa-môn
Thích tử tự nói mình tinh tấn, vậy mà trước đây ta chưa hứa cho y, nhưng họ cứ tới xin y mãi.
Nghe vậy, các Tỳ-kheo giữ mười hai hạnh đầu-đà đến bạch với Phật, Phật bảo:
–
Tỳ-kheo nào nài xin y từ trưởng giả hoặc vợ trưởng giả, chẳng phải bà thì con mắc tội Xả-đọa, trừ khi y bị cướp, bị mất, bị cháy, bị mục nát, bị vua lấy thì được phép đến nhà trưởng giả, vợ trưởng giả xin lại số y đã mất.
Nếu nhận dư y thì phạm tội Xả-đọa.
Phật ở tại vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.
Có người vợ trưởng giả may y cho Thích tử Bạt-nan-đà.
Nghe tin vợ trưởng giả ấy may y cho mình, Bạt-nan-đà liền đến nhà ấy nói rằng:
– Cô hãy may y cho thật đẹp để đem cúng dường cho tôi.
Trưởng giả liền may y thật tốt cúng dường vị ấy.
Về đến phòng, vị ấy khoe với các Tỳ-kheo:
– Trưởng giả ấy đã may cho tôi cái y tốt này.
Các
Tỳ-kheo im lặng, không biết làm sao, liền đến bạch đầy đủ với Thế Tôn. Thế Tôn đáp:
–
Tỳ-kheo nào nghe người khác may y cho mình, trước không được yêu cầu tùy ý mà đến nhà ấy bảo phải may cho thật tốt và nhận y đó thì phạm Xả-đọa.
Phật ở tại vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.
Có hai nhà trưởng giả may y cho Bạt-nan-đà. Nghe tin hai nhà trưởng giả may y cho mình, Bạt-nan-đà liền đến hai nhà ấy nói rằng:
– Lành thay, trưởng giả! Nếu không đủ tiền may y cho tôi thì hãy hùn chung lại may một cái cho đẹp.
Hai trưởng giả liền gom lại may thành một y cho vị ấy. Về đến nhà, vị ấy huênh hoang nói với các Tỳ-kheo:
– Hai nhà ấy đã gom hai y thành một y, cúng cho tôi.
Các
Tỳ-kheo không biết làm sao, liền đến bạch với Thế Tôn. Thế Tôn bảo:
–
Tỳ-kheo nào trước chưa được sự yêu cầu tùy ý mà đi đến hai nhà trưởng giả chẳng phải bà con đang may y cho mình bảo gom hai cái thành một và nhận y ấy thì phạm Xả-đọa.
Phật ở tại vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.
Nghe tin các Tỳ-kheo thiếu y, vua Ưu-điền liền cho người mang tiền sắm y đến Xá-vệ cúng cho các Tỳ-kheo. Các Tỳ-kheo không nhận và nói:
– Thế
Tôn không cho nhận tiền sắm y, để khi nào may thành y rồi sẽ nhận.
Sứ giả hỏi:
– Có ai có thể mua y cho các thầy không?
Các
Tỳ-kheo đáp:
– Không ai cả.
Các
Tỳ-kheo không biết làm sao, liền đến bạch với Thế Tôn. Nhân việc ấy, Thế Tôn tập hợp chúng Tăng hòa hợp, đủ mười công đức, kiết giới cho Sa-môn.
Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
–
Tỳ-kheo muốn mua y thì phải mượn người quen thân, người giữ vườn, hoặc tịnh nhân giữ năm giới. Tỳ-kheo ấy nói với sứ giả rằng: “Ðây là người mua y, đây chẳng phải người mua y”. Sứ giả đưa tiền mua y cho người ấy đến chợ mua y. Người ấy đến chợ, hoặc dùng tiền, hoặc dùng vàng, hoặc dùng đồng, thiếc, hoặc dùng tơ lụa để đổi y. Khi người ấy trở về, Tỳ-kheo phải đến đứng im lặng trước người ấy bốn, năm, sáu lần. Nếu nhận được y thì tốt.
Nếu đến quá sáu lần thì phạm Xả-đọa. Nếu không được y thì phải tự đi, hoặc cho người mang tin đến nhà người cho tiền sắm y nhắn tin rằng: “Tỳ-kheo ấy rốt cuộc không nhận được y, chớ nghĩ rằng vị ấy đã nhận được. Hãy đi đòi lại, đừng để tổn phí”.
Phật ở tại vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.
Lúc ấy nhóm sáu Tỳ-kheo lấy vải dệt bằng tơ làm ngọa cụ mới. Thấy vậy, các trưởng giả nói:
– Sa-môn
Thích tử tự nói không tham tốt mà lấy vải tơ làm ngọa cụ, có khác gì vua hay trưởng giả.
Nghe vậy, các Tỳ-kheo giữ mười hai hạnh đầu-đà đến bạch Thế Tôn, Thế Tôn bảo:
–
Tỳ-kheo nào dùng vải tơ làm ngọa cụ thì phạm Xả-đọa.
Nhóm sáu
Tỳ-kheo dùng toàn lông dê đen làm ngọa cụ mới. Thế Tôn bảo:
– Không được dùng toàn lông dê đen làm ngọa cụ. Ai làm thì phạm Xả-đọa.
Nhóm sáu
Tỳ-kheo lại dùng toàn lông dê trắng làm ngọa cụ. Thế Tôn bảo:
– Không được dùng toàn lông dê trắng làm ngọa cụ. Nếu làm ngọa cụ thì phải dùng hai phần lông dê đen, phần thứ ba lông dê trắng và phần thứ tư màu xám.
Nếu không làm đúng vậy thì phạm Xả-đọa.
Nhóm sáu
Tỳ-kheo bỏ ngọa cụ cũ, sắm ngọa cụ mới. Các Tỳ-kheo thực hành mười hai hạnh đầu-đà nghe vậy, liền đến bạch Thế Tôn. Thế Tôn bảo:
–
Tỳ-kheo nào làm ngọa cụ mới phải dùng cho đủ sáu năm. Nếu chưa đủ sáu năm đã xả bỏ và làm cái mới thì phạm Xả-đọa. Nếu đã quá hư rách thì phải bạch chúng, chúng cho phép thì được làm, nếu không cho phép mà làm thì phạm Xả-đọa.
Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.
Lúc ấy,
Thích tử Bạt-nan-đà làm tọa cụ mới và vứt bỏ cái cũ. Thấy vậy, các Tỳ-kheo liền đến bạch Thế Tôn, Thế Tôn bảo:
–
Tỳ-kheo nào làm tọa cụ mới phải lấy lai của cái cũ đắp lên bốn bên của cái mới để làm hoại sắc. Nếu không làm như vậy thì phạm Xả-đọa.
Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.
Lúc ấy,
Ưu-đà-di cùng nhiều Tỳ-kheo đi từ Câu-tát-la đến nước Xá-vệ. Trên đường đi, họ gặp các lái buôn điều khiển xe ngựa chở rất nhiều lông thú đến nước Xá-vệ. Khi ấy, đường đi có rất nhiều trộm cướp, các Tỳ-kheo bảo với các lái buôn:
– Chúng tôi muốn làm bạn đồng hành với các ông để cùng đến Xá-vệ.
Các lái buôn đáp:
– Chúng tôi cũng thích kết bạn.
Các
Tỳ-kheo sợ bụi đất dính thân thể nên thường đi ở sau. Có một lái buôn, xe bị gãy trục nên bảo các bạn đồng hành:
– Mỗi người các ông hãy chở giúp tôi một ít lông thú.
Các người đồng hành nói:
– Phần của chúng tôi, chúng tôi chở còn không hết, làm sao có thể chất thêm phần của anh.
Nói xong, họ liền bỏ đi trước. Lái buôn ấy ngồi đối diện với xe lông mà rầu rĩ. Một lát sau, các Tỳ-kheo đến. Lái buôn lấy lông thú cúng dường cho các Tỳ-kheo. Các Tỳ-kheo phân chia ra và mang đi. Con đường đi xuyên qua một thành phố, nhân dân ở cạnh đường hỏi các Tỳ-kheo rằng:
– Lông này giá bao nhiêu? Lông ấy mắc hay rẻ? Cần đổi vật gì? Gánh nặng như vậy thu được lợi gì?
Nghe vậy, các Tỳ-kheo thực hành mười hai hạnh đầu-đà không biết đáp làm sao, liền đến Xá-vệ, bạch rõ với Thế Tôn. Thế Tôn bảo:
–
Tỳ-kheo nào trên đường đi được cúng dường lông dê thì được mang đi ba do-tuần. Nếu quá thì phạm Xả-đọa.
Phật ở tại vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.
Ca-lưu-đà-di nhận được lông dê liền nhờ các Tỳ-kheo ni giặt, nhuộm và lựa chọn lông dê. Ca-lưu-đà-di vốn là bạn của vua Ba-tư-nặc, là thầy của Mạt-lợi phu nhân. Vì vậy các Tỳ-kheo ni không dám trái lời. Họ lo giặt, nhuộm, chọn lựa lông dê nên phế bỏ việc tụng kinh, học tập.
Ðại Ái
Ðạo Cồ-đàm-di liền đến bạch đầy đủ với đức Thế Tôn. Thế Tôn bảo:
–
Tỳ-kheo nào nhờ Tỳ-kheo ni – chẳng phải bà con – giặt nhuộm, chọn lựa lông dê thì phạm Xả-đọa.
Phật ở vườn Thạch-đài, tại sông Di-hầu, thuộc thành Tỳ-xá-ly.
Vào sáng sớm, Thích tử Bạt-nan-đà đắp y, mang bát vào Tỳ-xá-ly khất thực. Lúc ấy, trong thành Tỳ-xá-ly có các thanh niên đứng ở ngã tư đường. Trông thấy Thích tử Bạt-nan-đà đến, các cậu ấy nói với nhau:
–
Bạt-nan-đà là Tỳ-kheo hung ác, Chúng ta hãy đem vàng bạc giả vờ đặt ở đầu đường. Nếu ông ấy nhặt thì chúng ta sẽ bắt dẫn đến gặp các vị trưởng lão.
Lúc đó,
Thích tử Bạt-nan-đà đi đến nơi ấy và lập tức nhặt lấy vàng bạc. Các thanh niên liền chạy đến bắt giữ vị ấy và nói:
– Ông là
Tỳ-kheo, vì sao lấy vàng bạc không được cho?
Bạt-nan-đà đáp:
– Chúng rơi trên đất nên ta lượm, chứ ta đâu có ăn trộm.
Họ liền dẫn nhau đến gặp quan huyện. Các thanh niên nói với quan huyện:
–
Tỳ-kheo này ăn trộm vàng bạc của tôi.
Các quan rất tin Phật, Pháp, Tăng nên bảo với các thanh niên:
– Chắc chắn Sa-môn Thích tử này không có ăn trộm vàng bạc của các anh.
Ông ấy lại bảo Bạt-nan-đà:
– Thầy hãy về tịnh xá, chớ có làm lại việc này nữa.
Bạt-nan-đà liền trở về, kể cho các Tỳ-kheo. Các Tỳ-kheo không biết làm sao liền đến bạch đầy đủ với Thế Tôn, Thế Tôn bảo:
–
Tỳ-kheo nào tự tay cầm vàng bạc hoặc dạy người khác cầm thì phạm Xả-đọa.
Phật ở tại vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.
Thích tử
Bạt-ban-đà mua bán vàng bạc để kiếm lời. Các trưởng giả hiềm trách, nói với nhau:
– Sa-môn
Thích tử này tự ngồi mua bán vàng bạc để kiếm lời thì có khác gì con buôn!
Nghe vậy, các Sa-môn thực hành mười hai pháp đến bạch với Thế Tôn, Thế Tôn bảo:
–
Tỳ-kheo nào mua bán vàng bạc để cầu lợi, không khác gì người đời thì phạm tội Xả-đọa.
Phật ở tại vườn Kỳ-thọ Cấp-Cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.
Lúc ấy,
Thích tử Bạt-nan-đà đem các loại đồ vật phân thành loại một, loại hai… để mua bán. Thấy vậy, các trưởng giả nói với nhau:
– Sa-môn
Thích tử này tự xưng tinh tấn mà lại đi mua bán các loại hàng hóa để nuôi ai vậy?
Tỳ-kheo thực hành mười hai pháp, liền đến bạch với Thế Tôn. Nhân việc ấy, Thế Tôn liền tập hợp chúng Tăng vì muốn đủ mười công đức và kiết giới cho các Sa-môn:
–
Tỳ-kheo nào mang các loại đồ vật đến chợ để mua bán thì phạm Xả-đọa.
Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.
Lúc ấy,
Thích tử Bạt-nan-đà làm quen với một chú bé bán hương. Trên sạp cậu ấy có một chiếc bát bằng ma-ni. Thích tử Bạt-nan-đà trông thấy liền bảo với chú bé:
– Chiếc bát này đẹp quá! Hãy cho tôi đi.
Chú bé ấy liền đựng cơm đầy bát rồi đem cúng dường. Bạt-nan-đà đem bát ấy đến Kỳ-hoàn nói với các Tỳ-kheo:
– Mỗi lần tôi đi đều được thu lợi. Khi qua chỗ bán hương, có một cậu bé đã đem chiếc bát này cúng dường cho tôi.
Nghe vậy, các Tỳ-kheo nói:
– Vì sao
Tỳ-kheo lại chứa bát dư?
Họ liền đến bạch rõ với Thế Tôn. Thế Tôn nói:
–
Tỳ-kheo nào được bát dư, không được chứa quá mười đêm. Nếu chứa quá mười đêm không xả thì phạm Xả-đọa.
Phật ở vườn Trúc Ca-lan-đà, thuộc thành Xá-vệ.
Bấy giờ trưởng giả
Thọ-đề cho con em vào biển tìm châu báu, nhặt được một cây ngưu-đầu chiên-đàn. Khi về đến nhà, họ suy nghĩ: “Chúng ta nên đem hiến cho trưởng giả Thọ-đề”, và lập tức đem đi hiến.
Trong kho trưởng giả có rất nhiều chiên-đàn. Tuy được khúc chiên-đàn này, trưởng giả cũng không thích lắm. Trưởng giả liền cho thợ khéo tiện làm cái bát bằng chiên-đàn, dựng một cây cao cách đất mười nhận (một nhận bằng 7,8 m) đem bát đặt trên ngọn cây ấy và phát tâm rằng:
– Nếu có
Sa-môn, Bà-la-môn nào không dùng thang mà lấy được chiếc bát thì nó thuộc về người ấy.
Nghe tin trưởng giả Thọ-đề làm bát chiên-đàn cho mình, Phú-lan-ca-diếp liền đến nhà ấy, nói với trưởng giả Thọ-đề:
– Có thật ông làm bát chiên-đàn cúng dường cho tôi không?
Trưởng giả đáp:
– Tôi không làm vì một người. Tôi đã dựng một cây cao mười nhận, treo bát trên ấy. Sa-môn, Bà-la-môn nào không dùng thang mà có thể lấy được thì chiếc bát thuộc vị ấy.
Phú-lan-ca-diếp suy nghĩ: “Mình không có thần túc để lấy bát ấy” và lập tức đứng dậy bỏ đi.
Tiếp đó,
Ma-ha-ly, Cù-da-lầu-a-di, Thoan-ba, Hưu-ca-chiên, Tiên-tỳ-lô, Trì-ni-càn-phất đến nhà trưởng giả Thọ-đề bảo trưởng giả rằng:
– Chắc là ông làm bát chiên-đàn cho tôi phải không?
Trưởng giả đáp:
– Tôi không làm vì một người. Tôi đã dựng cây cao mười nhận, treo bát trên ấy.
Có Sa-môn, Bà-la-môn nào không cần dùng thang mà lấy được thì bát thuộc người ấy.
Nhóm sáu
Tỳ-kheo suy nghĩ: “Ta không có thần túc để lấy bát ấy”. Họ lập tức đứng dậy bỏ đi.
Lúc ấy, tôn giả Tân-đầu-lô nghe tin trưởng giả Thọ-đề làm bát chiên-đàn đặt trên ngọn cây cao mười nhận và phát nguyện nếu có Sa-môn, Bà-la-môn nào không dùng thang mà có thể lấy được thì chiếc bát thuộc vị ấy; tôn giả Tân-đầu-lô liền đến chỗ Mục-kiền-liên đảnh lễ sát đất, ngồi qua một phía.
Tân-đầu-lô nói:
–
Mục-kiền-liên nên biết, trưởng giả Thọ-đề tạo bát chiên-đàn treo trên ngọn cây cao mười nhận. Nếu có Sa-môn, Bà-la-môn nào không dùng thang mà lấy được thì bát thuộc người ấy. Thế Tôn thường ca ngợi Mục-kiền-liên có thần thông đứng đầu các Thanh văn. Vậy hãy đến đó lấy bát.
Mục-liên đáp:
– Chỉ vì chiếc bát gỗ mà hiện thần túc sao? Ta không đi lấy đâu.
Tôn giả
Tân-đầu-lô liền trở về phòng.
Sáng sớm hôm sau, vị ấy đắp y mang bát, trên dưới chỉnh tề, không quay ngó hai bên, giống như đang ôm một bát dầu, ý niệm không tán loạn, giữ gìn năm căn, như con bò bị đóng vào xe, đi đến nhà trưởng giả Thọ-đề.
Trưởng giả trông thấy tôn giả Tân-đầu-lô bước đi thong thả, đắp Tăng-già-lê, mang bát, chống gậy, liền đứng dậy ra nghinh đón, chấp tay bạch rằng:
– Lành thay, Ðại đức Tân-đầu-lô! Sao lâu quá mới đến vậy? Thánh thể có nhẹ nhàng khỏe mạnh không? Xin mời ngài ngồi đây.
Tôn giả
Tân-đầu-lô liền ngồi. Trưởng giả Thọ-đề đảnh lễ sát đất rồi ngồi qua một bên. Tân-đầu-lô hỏi trưởng giả:
– Nghe nói ngài làm bát chiên-đàn, treo bát trên ngọn cây cao. Nếu Sa-môn, Bà-la-môn nào không dùng thang mà lấy được thì bát thuộc người ấy, việc đó có thật không?
Trưởng giả đáp:
– Thật có việc ấy.
Lúc ấy,
Tân-đầu-lô không rời chỗ ngồi, duỗi tay lấy bát.
Thấy việc thần biến này, trưởng giả hết sức vui mừng, liền thưa rằng:
– Xin cho mượn bát để vào nhà lấy cơm.
Trưởng giả liền vào nhà đựng cơm canh đầy bát rồi đem ra trao cho Tân-đầu-lô.
Tân-đầu-lô liền đứng dậy, đến vườn Trúc Ca-lan-đà nói với các Tỳ-kheo:
– Tôi vừa đến nhà trưởng giả Thọ-đề lấy chiếc bát ở trên ngọn cây cao.
Nghe vậy, các Tỳ-kheo không biết trả lời ra sao, liền đến bạch đầy đủ với Thế Tôn. Thế Tôn biết mà vẫn hỏi Tân-đầu-lô:
– Có thật ông đã làm việc ấy không?
– Thật vậy, thưa Thế Tôn.
Thế Tôn bảo:
– Vì sao
Tỳ-kheo chỉ vì chiếc bát nhỏ mà tự hiện thần túc? Này Tân-đầu-lô! Nay Ta đuổi ông. Trọn đời không được nhập Niết-bàn, không được đến Diêm-phù-đề.
Lúc ấy, tôn giả Tân-đầu-lô bị Thế Tôn đuổi liền rời khỏi chỗ ngồi, đảnh lễ sát đất, nhiễu Phật ba vòng rồi ra đi. Khi Tân-đầu-lô đi được một lát, Thế Tôn liền tập hợp chúng Tăng để kiết giới cho Sa-môn:
–
Tỳ-kheo nào có bát thường dùng bị nứt dưới năm chỗ thì phải vá lại mà dùng. Nếu tìm thêm cái mới thì phạm Xả-đọa. Tỳ-kheo được bát mới thì phải giữ bát cũ, trao lại cho chúng Tăng cái mới. Chúng Tăng đem bát mới trao cho Tỳ-kheo này thọ trì suốt đời, đến khi nào hỏng mới thôi.
Lúc ấy,
Tân-đầu-lô trở về phòng, thu xếp mười vật rồi nhập thiền, rời khỏi Diêm-phù-đề, hiện đến Câu-da-ni và kiết hạ ở đó, truyền giới cho năm trăm Ưu-bà-tắc, năm trăm Ưu-bà-di. Vị ấy có năm trăm đệ tử thọ giới Cụ túc, xây năm trăm ngôi tháp, năm trăm phòng có đủ năm trăm giường, chiếu, gối.
Tân-đầu-lô làm Phật sự ở tại Câu-da-ni.
Phật ở vườn Ni-câu-đà, thành Ca-duy-la-vệ, thuộc nước Thích-ky-sấu.
Lúc ấy, những người dòng họ Thích có thợ dệt riêng. Nhóm sáu Tỳ-kheo theo các trưởng giả xin chỉ sợi rồi đến nhà họ Thích thân quen nhờ họ bảo những người thợ dệt dệt y cho mình. Lúc ấy nhưng người thợ dệt đã không được nhận tiền, lại không được thức ăn nên đều oán hận, nói:
– Sa-môn
Thích tử dùng sức cưỡng ép bắt ta dệt y.
Tỳ-kheo thực hành mười hai pháp liền đến bạch đầy đủ với Thế Tôn. Thế Tôn bảo:
–
Tỳ-kheo nào đến nhà trưởng giả xin chỉ sợi và cưỡng ép thợ dệt chẳng phải bà con may y thì phạm Xả-đọa.
Phật ở vườn Ni-câu-đà, thành Ca-duy-la-vệ, nước Thích-ky-sấu.
Lúc ấy dòng họ Thích ở Ca-duy-la-vệ dệt y cho Bạt-nan-đà. Nghe tin dòng họ Thích dệt y cho mình, Bạt-nan-đà liền đến chỗ thợ dệt bảo với thợ dệt rằng:
– Ông hãy dệt y này thật đẹp cho tôi. Tôi sẽ đi khất thực cho ông ít nhiều thức ăn.
Bạt-nan-đà kể với các Tỳ-kheo việc ấy. Các Tỳ-kheo không biết đáp làm sao, liền đến bạch đầy đủ với đức Thế Tôn. Thế Tôn bảo:
–
Tỳ-kheo nào trước chưa được chấp thuận mà lén đến chỗ thợ dệt bảo thợ dệt:
“Hãy dệt y thật tốt và đẹp cho tôi, tôi sẽ khất thực cho ông ít nhiều thức ăn” và nếu được y thì phạm Xả-đọa.
Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.
Lúc ấy,
Bạt-nan-đà có một đệ tử đầy đủ giới hạnh. Bạt-nan-đà vốn có bản tánh thích mua bán để sinh sống nên suy nghĩ: “Ðệ tử này có thể giúp ta một tay để làm việc ấy”.
Ông ta liền lấy một tấm y cho đệ tử ấy.
Lúc ấy vừa kiết hạ xong, Thế Tôn dẫn các Tỳ-kheo đắp y, mang bát đi du hóa khắp nơi. Ðệ tử của Bạt-nan-đà cũng từ giã thầy để theo Phật, nhưng thầy không cho đi.
Ðệ tử nói:
– Dù đúng hay sai con cũng sẽ đi.
Bạt-nan-đà bảo đệ tử:
– Sở dĩ ta cho ngươi tấm y là vì cần người giúp một tay. Nếu muốn đi thì hãy để tấm y này lại.
Nói xong, ông ta liền đoạt lại tấm y. Người đệ tử khóc lóc, chạy đến chỗ Như Lai, đảnh lễ sát chân Ngài rồi bạch Thế Tôn đầy đủ việc ấy. Thế Tôn bảo:
–
Tỳ-kheo nào cho Tỳ-kheo khác y, sau vì tức giận nên dùng sức cưỡng đoạt lại, hoặc dạy người khác đoạt lại, nói với Tỳ-kheo ấy rằng: “Hãy đem y đó lại đây, ta không có cho ông”. Nếu Tỳ-kheo đó trả y lại và Tỳ-kheo này nhận y thì phạm Xả-đọa.
Phật ở tại vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc thành Xá-vệ.
Lúc ấy,
Thế Tôn và chúng Tăng kiết hạ ở Xá-vệ. Trong mùa an cư có người cúng y, các Tỳ-kheo không dám nhận nên đến bạch Thế Tôn. Thế Tôn nói:
– Trong mùa an cư, nếu có người cúng dường y, Tỳ-kheo nên dùng thiện ý để thọ nhận, chớ có làm Phật lòng đàn-việt.
Nhân việc đó, Phật chế giới cho các Sa-môn:
– Còn mười ngày nữa mới mãn hạ, Tỳ-kheo được cúng y thì hãy nhận. Nếu được y mới thì phải cất cho đến mãn hạ. Khi cất quá mười ngày phải tịnh thí cho người khác. Nếu cố giữ thì phạm Xả-đọa.
Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.
Lúc ấy tôn giả Bà-phú thường để lại y Tăng-già-lê ở nơi hoang vắng khi đi vào thành Xá-vệ. Ðến khi trở về thì bị mất y Tăng-già-lê. Vị ấy nói với các Tỳ-kheo:
– Sau khi tôi vào thành Xá-vệ thì bị mất y Tăng-già-lê.
Các
Tỳ-kheo không biết làm sao, liền đến bạch đầy đủ với Phật. Thế Tôn nói:
– Vào tháng cuối của mùa hạ, Tỳ-kheo sống ở nơi hoang vắng, muốn đi đâu mà đường đi có cọp, sói, giặc cướp thì có thể đem ba y gởi trong thành. Sau khi gởi y, Tỳ-kheo được phép lìa ba y trong sáu đêm. nếu quá sáu đêm thì phạm Xả-đọa.
Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.
Lúc ấy,
Tỳ-xá-khư – mẹ của Vô-di-la – thỉnh Phật và các Tỳ-kheo thọ thực. Ngay đêm ấy, cô ấy chuẩn bị đồ ăn uống. Sáng sớm hôm sau, cô ấy trải tọa cụ rồi sai người đến vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc bạch với Phật và chúng Tăng rằng: “Thức ăn đã chuẩn bị xong, xin thỉnh Phật và chư Tăng đến”.
Sứ giả liền đến Kỳ-hoàn, thấy các Tỳ-kheo đang tắm nơi đất trống, giống như Ni-kiền-tử. Sứ giả suy nghĩ: “Ở đây không có Sa-môn Thích tử, chỉ có Ni-kiền-tử đầy khắp Kỳ-hoàn”. Sứ giả liền trở về báo cáo với chủ:
– Nơi ấy không có Sa-môn Thích tử, chỉ có toàn Ni-kiền-tử đầy khắp Kỳ-hoàn.
Tỳ-xá-khư vốn là người thông minh, đã đắc sơ quả, liền suy nghĩ: “Chắc là chúng Tăng đang tắm nơi đất trống”. Cô ấy lại sai người đến bạch Phật và chúng Tăng: “Ðồ ăn đã được chuẩn bị xong, xin thỉnh Phật và Tăng đến thọ thực”.
Sứ giả liền đến bạch Phật. Thế Tôn dẫn năm trăm Tỳ-kheo đến nhà Tỳ-xá-khư, ngồi theo thứ lớp. Khi Phật và chúng Tăng đã ngồi yên, cô ấy tự tay rót nước và dâng các loại thức ăn.
Khi chúng Tăng thọ thực xong, cô ấy lại rót nước, rồi ngồi ở một phía, đem việc ban nảy bạch lại với Phật và xin Thế Tôn cho phép cúng áo tắm mưa cho các Tỳ-kheo. Thế Tôn liền cho phép. Kế đó, Phật đọc kệ chúc phúc rồi về Kỳ-hoàn.
Nhân việc ấy Phật kiết giới cho các Tỳ-kheo:
– Còn một tháng là hết mùa Xuân, Tỳ-kheo phải sắm y tắm mưa, còn lại nửa tháng thì được dùng, nếu quá hạn thì phạm Xả-đọa.
Phật ở tại vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.
Lúc ấy, tôn giả Dạ-xá cùng chúng Tăng du hành đến biên giới nước Câu-tát-la.
Trưởng giả, Bà-la-môn đều biết Dạ-xá nên cúng dường cho chúng Tăng cơm, bánh, đồ ăn ngon, vải lụa và được chúng Tăng nói pháp cho nghe. Các vật nhận được ấy, Dạ-xá đều gom hết về phần mình. Thấy vậy, các Tỳ-kheo nói với nhau:
– Vì sao
Tỳ-kheo này lấy vật của chúng Tăng?
Họ liền đến bạch Phật, Phật bảo:
–
Tỳ-kheo nào biết đó là vật của chúng Tăng mà lấy làm của riêng, hoặc lấy những thứ đàn-việt cúng cho Tăng làm của mình thì phạm Xả-đọa.
Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.
Lúc ấy, tôn giả Tất-lăng-già-bà-thái bị đau hai mắt. Các trưởng giả, Bà-la-môn dâng cúng đồ ăn, đồ dùng, bốn loại thuốc, bơ, mè, dầu, mật, đường tán, đường phèn. Vị ấy tích trữ để dùng hàng ngày.
Thấy vậy, các Tỳ-kheo đến bạch với Thế Tôn. Nhân việc ấy, Thế Tôn tập hợp chúng Tăng, vì muốn đủ mười công đức nên kiết giới cho Sa-môn:
–
Tỳ-kheo nào tích trữ bốn loại thuốc thì không được để quá bảy ngày. Nếu quá, phạm Xả-đọa.
Ưu-ba-ly bạch Phật:
– Thế nào gọi là Ny-tát-kỳ?
Thế Tôn nói:
– Nếu ba y đã bị phạm Xả-đọa thì không được nhận lại, không được mặc, không được trao đổi, không được cho người. Ðó gọi là Ny-tát-kỳ-ba-dật-đề. Ðó cũng gọi là thiêu gốc thành đạo, thiêu đốt người, không đạt được tam muội. Ðó gọi là Xả-đọa.
TỲ NẠI DA
Hết quyển sáu
QUYỂN THỨ BẢY PHẦN MỘT: PHÁP BA-DẬT-ÐỀ – PHẦN 1
Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp Cô Ðộc, thuộc nước Xá-vệ.
Lúc ấy, tôn giả La-vân nói dối, trêu chọc mọi người. Các Tỳ-kheo liền quở trách:
– Ông là con Phật, vì sao lại nói dối?
Các
Tỳ-kheo đem việc ấy bạch đầy đủ với Phật. Thế Tôn bảo La-vân:
– Vì sao ông lại nói dối để vui đùa?
Phật nói kệ quở trách La-vân:
– Nói dối gần địa ngục
Làm mà nói chẳng làm
Hai tội sau đều chịu
Bị nghiệp dẫn dắt đi.
Pháp y mặc trên thân
Làm ác không biết mệt
Người nào làm việc ác
Khi chết đọa địa ngục
Không giới, nhận cúng dường
Khất thực không hổ thẹn
Chết nuốt hòn sắt nóng
Lửa cháy đỏ rất nóng.
Sau khi quở trách xong, Thế Tôn kiết giới cho Sa-môn:
–
Tỳ-kheo nào nói dối đùa giỡn, phạm Ba-dật-đề.
Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.
Nhóm sáu
Tỳ-kheo mạ nhục các Tỳ-kheo bằng các chủng loại. Các Tỳ-kheo đến bạch với Thế Tôn. Thế Tôn nói:
–
Tỳ-kheo nào dùng các chủng loại hủy nhục các Tỳ-kheo thì phạm Ba-dật-đề.
Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.
Nhóm sáu
Tỳ-kheo thường tranh cãi với nhóm mười bảy Tỳ-kheo. Có Tỳ-kheo nghe nhóm này có việc gì liền đến nói với bên kia, nghe bên kia có việc gì liền nói với bên này. Nghe vậy, các Tỳ-kheo liền đến bạch với Thế Tôn. Thế Tôn nói:
–
Tỳ-kheo nào đùa cợt nói lời hai lưỡi, gây rối loạn hai bên thì phạm Ba-dật-đề.
Phật ở vườn Cù-sư-la, thuộc nước Câu-xá-di.
Tỳ-kheo ở Câu-xá-di thích đấu tranh, sự việc đã được các vị trưởn giả giải quyết như pháp ở giữa chúng, nhóm sáu Tỳ-kheo lại khơi dậy việc cũ và nói rằng:
– Việc tranh chấp đó vì sao không để chúng tôi dẹp trừ?
Nghe tin nhóm sáu Tỳ-kheo khơi dậy lại sự việc đã được giải quyết xong, các Tỳ-kheo liền đến bạch đầy đủ với Thế Tôn. Thế Tôn bảo:
–
Tỳ-kheo nào việc tranh chấp đã được giải quyết xong như pháp mà lại khơi dậy thì phạm Ba-dật-đề.
Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.
Lúc ấy,
Ca-lưu-đà-di vào trong cung một mình để thuyết pháp cho Mạt-lợi phu nhân.
Các đại thần của vua nói với nhau:
– Vì sao
Tỳ-kheo vào cung thuyết pháp một mình vậy?
Tỳ-kheo hành mười hai pháp liền đến bạch với Thế Tôn. Thế Tôn nói:
–
Tỳ-kheo nào một mình thuyết pháp cho người nữ thì không được quá năm sáu lời (trừ khi có người). Nếu quá thì phạm Ba-dật-đề.
Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.
Lúc ấy nhóm sáu Tỳ-kheo đem luật Tỳ-kheo nói với Sa-di. Thấy vậy các Tỳ-kheo nói:
– Vì sao lại đem luật Tỳ-kheo nói với người chưa thọ đại giới?
Họ liền đến bạch đầy đủ với Thế Tôn. Thế Tôn nói:
–
Tỳ-kheo nào nói một câu giới pháp với người chưa thọ đại giới thì phạm Ba-dật-đề.
Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.
Lúc ấy có một Tỳ-kheo vào trong chúng Sa-di tự khen ngợi rằng:
– Tôi đã đắc sơ thiền, nhị, tam, tứ thiền, từ, bi, hỷ, xả. Thấy vậy, các Tỳ-kheo liền đến trách mắng:
– Vì sao
Tỳ-kheo lại khoe với người chưa thọ đại giới rằng mình đắc thiền?.
Họ liền đến bạch với Thế Tôn. Thế Tôn nói:
–
Tỳ-kheo nào tự ca ngợi với người chưa thọ đại giới rằng: “Tôi biết việc ấy, thấy như thật việc ấy” thì phạm Ba-dật-đề.
Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.
Nhóm sáu
Tỳ-kheo nói với người chưa thọ đại giới:
–
Tỳ-kheo ấy phạm Tăng-già-bà-thi-sa, Ba-dật-đề.
Nghe việc ấy, các Tỳ-kheo liền đến bạch Thế Tôn. Thế Tôn nói:
–
Tỳ-kheo nào nói với người chưa thọ đại giới rằng: “Tỳ-kheo ấy phạm Tăng-già-bà-thi-sa, Ba-dật-đề” (trừ khi được Tăng sai) thì phạm Ba-dật-đề.
Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.
Lúc ấy các trưởng giả đến tham quan vườn tược, phòng ốc. Ðến khi trở về thì đói không chịu nổi. Họ liền nói với Tỳ-kheo thực hành mười hai pháp:
– Sa-môn
Thích tử thường thọ nhận thức ăn của người vậy mà về tịnh xá không hề đãi khách.
Các
Tỳ-kheo nói với nhóm sáu Tỳ-kheo:
– Các trưởng giả đến thăm tịnh xá, đến lúc về đói không chịu nổi. Xin các vị cho ít gạo để đãi khách.
Nhóm sáu
Tỳ-kheo nói:
– Ðược thôi.
Sau đó, các Tỳ-kheo lấy nhiều lúa gạo để đãi khách. Nhóm sáu Tỳ-kheo nói:
– Ai cho các thầy phung phí tiền của chúng Tăng, lấy lúa gạo đãi khách?
Các
Tỳ-kheo đáp:
– Chính thầy đã cho phép.
Nhóm sáu
Tỳ-kheo nói:
– Tôi dâu có cho.
Các
Tỳ-kheo không biết trả lời làm sao, liền đến bạch Thế Tôn. Thế Tôn nói:
–
Tỳ-kheo nào trước đã cùng nhau thỏa thuận, sau đó nói rằng: “Ông đã xài phí phạm của cải của chúng Tăng”, trái với sự thỏa thuận lúc trước thì phạm Ba-dật-đề.
Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.
Lúc ấy vào ngày mười lăm, kiền chùy được đánh để tập hợp chúng Tăng lại thuyết giới. Tôn giả Xiển-nộ nói với các Tỳ-kheo:
– Cứ nửa tháng lại nói những giới vụn vặt đó làm gì! Chỉ khiến cho các Tỳ-kheo buồn rầu, bối rối, không thể hành đạo.
Nghe vậy, các Tỳ-kheo liền bạch Thế Tôn. Nhân việc ấy, Thế Tôn tập hợp chúng Tăng, vì muốn đủ mười công đức nên kiết giới cho Sa-môn:
–
Vào ngày thuyết giới, Tỳ-kheo nào nói rằng: “Cứ nửa tháng lại nói những giới vụn vặt đó làm gì”, vì khinh chê giới thì phạm Ba-dật-đề.
Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.
Nhóm sáu
Tỳ-kheo chặt cây làm giường. Thần cây tức giận, đến nói với Tỳ-kheo hành mười hai pháp rằng:
– Nhà tôi đang ở đã bị chặt phá sạch.
Các
Tỳ-kheo đến bạch với Thế Tôn, Thế Tôn bảo:
– Có thần nương ở rễ cây, có thần nương ở cành cây, có thần nương ở bên trong nhánh cây, có thần nương bên trong vỏ cây, có thần nương ở chỗ nứt trên vỏ cây, có thần nương ở nụ hoa, có thần nương ở lá cây, có thần nương ở hoa đã nở, có thần nương nơi quả… Tất cả cây cỏ đều có thần. Lý do thần nương nơi đó là để thọ hưởng mùi hương của nó. Tỳ-kheo nào tự chặt cây, hoặc dạy người chặt thì phạm tội đọa.
Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.
Nhóm sáu
Tỳ-kheo thường tranh cãi với nhóm mười bảy Tỳ-kheo. Nhóm mười bảy Tỳ-kheo không thể chịu đựng được, lập tức nổi sân. Nghe vậy, các Tỳ-kheo mười hai pháp đến bạch với Thế Tôn, Thế Tôn bảo:
–
Tỳ-kheo nào nổi sân thì phạm tội đọa.
Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.
Nhóm sáu
Tỳ-kheo quấy nhiễu, kích động các Tỳ-kheo ở A-lan-nhã:
–
Các thầy đã đắc sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền, tu phạm hạnh, chấm dứt sanh tử.