TỪ BI THỦY SÁM PHÁP · Phần 3/4
TỪ BI THỦY SÁM PHÁP (phần 3)
3. Làm cho các pháp lành tăng trưởng;
4. Làm cho các pháp lành chưa sanh chưa được sanh.
– Bốn pháp như ý túc:
1. Dục như ý túc, (có tâm ham muốn tụ tập các pháp lành thì thì được như ý),
2. Niệm như ý túc (quan sát cảnh gì mà nhất tâm chuyển chú vào đó thì được như ý).
3. Tinh tấn như túc ý ( do sự tinh tấn mà tu tập các pháp lành được như ý),
4. Tư duy như ý túc (do suy nghĩ mà tu tập được kết quả).
– Năm căn:
1. Tín căn: Tin theo chánh đạo và trợ đạo,
2. Tinh tấn căn: là sự dõng mãnh tu theo thiện pháp,
3. Niệm căn: ghi nhớ các pháp chánh đạo và trợ đạo, 4. Định căn: Nhiếp tâm theo chánh đạo và trợ đạo, 5. Tuệ căn: Nhờ có định và chân tánh tự sáng suốt không phải ở ngoài vào.
– Năm lực: Cũng như ngũ căn, nhưng vì thật hành theo ngũ căn thì căn lành có sanh, song gốc ác chưa phá hết nên phải gia công tụ tập thêm khiến cho thiện căn tăng trưởng. Khi thiện căn thành thực các ác pháp không còn thì gọi là Ngũ Lực.
– Bảy Pháp Giác chi: Giác là tỏ, nghĩa là tỏ biết pháp tu chơn hay nguỵ. Chi là nghành, nghĩa là bảy pháp này có chi khác phái nhau, không sen lẫn nhau nên gọi là bẩy pháp giác chi hay là bẩy pháp giác phần;
1. Trạch pháp giác chi:
2. Tinh tấn giác chi;
3. Hỉ giác chi; 4. Trừ giác chi;
5. Xả giác chi;
6. Đinh giác chi;
7. Niệm giác chi.
– Tám pháp đạo phần:
1. Chánh kiến: Sự hiểu biết chơn chánh,
2. Chánh tư duy; Sự suy nghĩ chơn chánh,
3. Chánh ngữ: nói những lời chơn chánh không hư vọng;
4. Chánh nghiệp: Hành động chân chánh; 5. Chánh mạng: Lấy sự khất thực để nuôi sống thân mạng;
6. Chánh tinh tấn: tu theo giới, định, tuệ một lòng tinh chuyên không gián đoạn;
7. Chánh niệm: ghi nhớ những pháp chơn chánh;
8. Chánh định: thu nhiếp thân tâm thường được tịch tịnh
[16] Tát bà nhã là tiếng phạn, Tàu dịch là nhứt thế chủng trí, tức là chỉ cái trí ở quả vị rốt ráo viên mãn của chư Phật.
Tam độc: 1. Tham: đối với cảnh thuận ham muốn không nhàm. 2. Sân: đối với cảnh nghịch sinh lòng giận dữ; 3. Si mê: không phân biệt được chơn nguỵ. Ba món này hay phá hoại thiện tâm xuất thế nên gọi là tam độc.
Tam lậu:
1. Dục lậu: Chúng sinh nhơn kiến hoặc tư hoặc mà tạo nghiệp nên bị ở mãi trong cõi Dục không khi nào ra khỏi,
2. Hữu lậu: Chúng sinh nhơn kiến hoặc tư hoặc khởi ra phiền não nên không thoát ly được cõi sắc và vô sắc;
3. Vô minh lậu: Chúng sinh bị vô minh làm si hoặc phải đoạ lạc trong ba cõi.
[19] Tam khổ:
1. Sinh khổ: Chúng sinh mang thân ngũ ấm này là một điều khổ;
2.Thọ khổ: Lại thêm cái khổ lãnh thọ những nỗi khổ bên ngoài;
3. Hoại khổ: Khổ về sự nhớ tiếc cảnh sanh ra bởi sự thiên lưu của pháp hữu vi thường không được an ổn.
Tam đảo:
1. Thường đảo: Đối với pháp vô thường trong thế gian mà khởi chấp cho là thường;
2. Lạc đảo: Đối với khổ trong thế gian mà khởi chấp cho là vui;
3. Tịnh đảo: Đối với pháp bất tịnh trong thế gian mà khởi chấp cho là tịnh.
[21] Tam hữu:
1. Cõi dục: Người, trời, tu la, ngã quỉ, súc sanh, địa ngục đều tuỳ theo nghiệp nhơn dục vọng mà thọ quả báo trong cõi này;
2. Cõi săc: Tứ thiền thiên do đời trước tu tập thiền định thuộc về hữu lậu nên thọ báo sanh ở cõi này;
3. Cõi vô sắc: Tứ không thiên, do kiếp trước tu tập hữu lậu thiện cho nên thọ báo sanh ở cõi trời này dù không có thân sắc chất làm ngại, nhưng cũng còn tuỳ theo các nhơn đã tạo mà thọ quả báo.( Tứ không thiên: Không xứ, thức xứ, vô sở hữu xứ, Phi Phi tưởng xứ thiện)
Bốn trụ là chỉ cho kiến hoặc và tư hoặc:
1. Kiến nhứt thế trụ địa: Chỉ cho những kiến hoặc trong tam giới;
2. Dục ái trụ địa: Chỉ cho ta tất cả tư hoặc trong cõi Dục;
3. Sắc ái trụ địa: Chỉ cho tất cả tư hoặc trong cõi sắc;
4. Hữu ái trị địa: Chỉ cho ta tất cả tư hoặc trong cõi vô sắc.
Bốn lưu:
1. Kiến lưu: Chỉ cho kiến hoặc trong ba cõi, nghĩa ý cần đối với pháp trần khởi phân biệt kiến. Nhơn kiến hoặc nầy bị lưu chuyển mãi mãi trong ba cõi;
2. Dục lưu: Tức là tư hoặc trong cõi dục, nghĩa là ngũ căn tham ái ngũ trần nên gọi là tư hoặc( tham, sân, mạn). Nhơn tu hoặc nầy nên bị lưu chuyển mãi trong cõi Dục.
3. Hữu lưu: Hữu là nhơn quả không mất là tư – hoặc ở cõi sắc và vô sắc( tham, mạn). Vì tư hoặc này mà bị lưu chuyển mãi trong cõi Sắc và Vô Sắc;
4. Vô minh lưu: không hiểu rõ chân vọng gọi là vô minh tức là si hoặc, tư hoặc của ba cõi. Bởi vô minh này nên bị lưu chuyển mãi trong vòng sinh tử.
Bốn thủ:
1.Dục thủ: Sự ham muốn chấp trước cảnh ngũ trần ở cõi dục;
2. Kiến thủ: Đối với thân ngũ ấm này vọng chấp cho là thật( thân kiến), hoặc chấp đoạn, chấp thường( biên kiến);
TỪ BI THỦY SÁM PHÁP – PHẦN 3
3. Giới thủ: Giữ những giới pháp sai lầm;
4. Ngã ngữ thủ: Tuỳ theo ngôn ngữ giả thuyết khởi ra chấp ngã, theo chỗ chấp đó mà cố giữ lấy.
Bốn chấp:
1. Chấp có;
2. Chấp không;
3. Chấp cũng có cũng không;
4. Chấp không phải có không phải không.
Bốn duyên:
1. Nhơn duyên: Sáu căn làm nhơn sáu trần làm duyên sanh ra thức;
2. Thứ đệ duyên: Tâm tâm sở pháp thứ lớp tương tục khởi ra( tâm tâm sở, tâm tức tâm vương, tâm sở tức là thọ, tưởng, hành); 3. Duyên duyên: tâm tâm sở pháp ỷ thác nơi cảnh duyên mà Sanh;
4. Tăng thượng duyên: Sáu căn đối với sáu trần hiển phát ra thức, có sức tăng thượng làm cho các pháp được sinh không bị chướng ngại.
Bốn đại: 1. Địa đại (đất); 2. Thuỷ đại (nước); 3. Hoả đại ( lửa); 4. Phong đại (gió)
Bốn phược:
1. Dục ái thân phược: Chúng sinh vì tham cái cảnh ngũ dục lạc nên khởi những nghiệp ràng buộc thân tâm không được giải thoát;
2. Sân khuể thân phược, chúng sanh đối với nghịch cảnh hay sanh tâm giận dữ khởi ra hoặc nghiệp ràng buộc thân tâm không được giải thoát;
3. giới đạo thân phược: Thực hành các giới pháp không cần chân chánh nên gọi là giới đạo. Do giữ giới sai lầm nên khởi các hoặc nghiệp ràng buộc thân tâm không được giải thoát;
4. Ngã kiến thân phược: Ngã kiến tức kiến thủ. Đối với pháp không phải Niết bàn (tứ thiền, tứ không) vọng cho là Niết bàn sanh tâm chấp trước nên gọi là kiến thủ. Do ngã kiến này mà hoặc nghiệp tăng trưởng, ràng buộc thân tâm không được giải thoát.
Bốn tham:
1. Ham muốn sắc đẹp của người;
2. Ham muốn hình tướng cao, thấp, yểu điệu của người;
3. Ham muốn sự chạm súc mềm mại êm ái;
4. Ham muốn sự nâng đỡ, phục tùng của người.
Bốn sinh: Noãn sinh, thái sinh, thấp sinh, hoá sinh.
Năm trụ: Bốn trụ đã giải trước thêm vô minh trụ nữa là thành năm.
Năm món cái:
1. Tham dục cái:
2. Sân khuể cái;
3. Thuỵ miên cái: Tâm hồn trầm không làm chi được;
4. Trạo hối cái: Trong tâm có sự ăn năn dao động;
5. Nghi cái: đối với việc gì cũng mờ ám, không biện biệt được chơn nguỵ, tâm du dự không quyết đoán.
Năm món xan:
1. Trụ xứ xan: Chỗ ở chỉ muốn ở một mình không cho người khác ở;
2. Gia xan: đối với nhà của có ý niệm cho là của riêng mình, nếu người khác ở chung cũng cho là mình hơn;
3. Thí xan; có tâm niệm cho rằng chỉ có mình mới được bố thí, ngoài ra không có ai, nếu có cũng cho mình là hơn;
4. Xưng tán xan: Chỉ muốn người khen mình, không muốn ai khen người khác;
5. Pháp xan: Chỉ muốn mình mình biết kinh luật sâu xa, không thích cho người khác biết.
Năm món kiến:
1. Thân kiến: Vọng chấp thân này thật có;
2. Biên kiến: chấp cái thân này hoặc đoạn (chết là mất) hoặc thường (sống mãi mãi);
3. Tà kiến: không tin lý nhân quả, huỷ báng Tam Bảo;
4. Giới Thủ: đối với pháp sai lầm mà cứ cho là đúng;
5. Kiến thủ: Đối với pháp không phải yên vui mà cứ cho là yên vui.
Năm món tâm:
1. Xúc nhĩ tâm: tâm mới súc cảnh chưa phân biệt được thiện ác;
2. Tâm cầu tâm: Tâm phân biệt được thiện ác liền theo dõi tìm kiếm;
3. Quyết định tâm: tâm đã rõ biết thiện ác rồi quyết định không sai;
4. Nhiễm tịnh tâm: tâm đã rõ biết nhiễm tịnh;
5. Đẳng lưu tâm: tâm đối với pháp lành thì những mối tịnh tưởng nối nhau luôn, còn đối với pháp ác thì đoạn cái nhiễm tưởng mãi.
Sáu căn: Mắt, Tai, Mũi, Lưỡi, Thân, ý.
Sáu thức:
1. Nhãn thức: mắt thấy;
2. Nhĩ thức: tai nghe;
3. Tỵ thức: Mũi ngửi;
4. Thiệt thức: lưỡi nếm;
5.Thân thức: thân chạm xúc;
6. Ý thức sự phân biệt hiểu biết.
[38] Sáu tưởng: Do ý thức tưởng sắc. Chấp trước sắc tưởng đến thinh. Chấp trước thinh tưởng đến hương. Chấp trước hương tưởng đến vị. Chấp trước vị tưởng đến xúc. Chấp trước xúc tưởng đến pháp trần
Sáu thọ: Chỉ cho sự thọ lãnh của sáu căn đối với sáu trần.
Sáu hành: chỉ cho sáu lối hành đạo của ngoại đạo: Nhịn đói, nhảy xuống vực sâu, nhảy vào lửa, chuyên ngồi mãi, yên lặng mãi, thờ trâu, chó…
Sáu ái: Cũng gọi là sáu món xúc, vì sáu căn cảm xúc sáu trần hay sanh lòng tham ái.
[42] Sáu nghi: nghi là tính do dự bởi nghiệp không tin gây nên, nghĩa là sáu căn đối với sáu trần không phân biệt được thiện ác.
Bảy món lậu:
1. kiến lậu: Mắt trông thấy sắc không rõ sắc với tánh là bình đẳng cứ đắm vào phần sắc tướng mà sanh tâm phân biệt, nhân cảnh tốt xấu mà sanh tâm yêu ghét;
2. Chư căn lậu: Không những nhãn căn mà cả những căn khác cũng thế;
3. Vọng lậu: quên điều lành, dong duổi theo điều ác;
4. Ác lậu: đối với nghịch cảnh sanh tâm ghét bỏ;
5. Thân cận lậu: không tuân lời thầy dạy, gần gũi bạn ác;
6. Ái lậu: gặp cảnh thuận thì ham mê mải miết;
7. Nhiễm lậu: không hiểu chân tam vô niệm, cứ dong duổi theo vọng niệm.
Bảy món sử:
1. Dục sử: sự ham muốn sai khiến;
2. Khuể sử: tánh nóng giận sai khiến;
3. ái sử: Sự thương mến sai khiến;
4. Mạn sử: tánh kiêu mạn sai khiến;
5. Vô minh sử: sự mê muội sai khiến;
6. Kiến sử: sự tà kiến sai khiến;
7. Nghi sử: Sự ngờ vực sai khiến.
Tám món đảo:
1. Sự vật trong thế gian là vô thường mà chấp cho là thường;
2. Ngũ dục lạc không phải vui mà chấp cho là vui;
3. Thân này không phải ta mà chấp cho là ta;
4. Thân này dơ nhớp mà chấp cho là sạch;
5. Pháp thân Phật là thường trụ mà chấp cho là vô thường;
6. Cảnh Niết bàn của Phật là vui mà chấp cho là không vui;
7. Đối với cái ngã chơn thật Phật tánh mà chấp cho là vô ngã;
8. Đối với pháp thân của Phật là thanh tịnh mà chấp cho là bất tịnh. Trong tám món điên đảo chấp trước này, bốn món trước thuộc của phàm phu, bốn món sau thuộc của nhị thừa.
Tám món cấu:
1.Cấu là nhơ bẩn,
2. đối với Tam bảo chẳng những không tín ngưỡng tán thán lại còn phỉ báng.
3.ấy là ba cấu ở ba nghiệp.
4. Bất hiếu với cha mẹ,
5. không kính thờ sư trưởng;
6. Không cứu giúp kẻ bần cùng;
7. Không săn sóc người đau ốm;
8. Không thương xót chúng sinh. Ba điều trước là Kính điền, hai điều kế là Ân điền, ba điều sau là Bi Điền. Tám điều này đều là phước điền cả. Đã không chăm nom ruộng phước ấy mà lại còn không cung kính, không biết ơn, không thương xót cho nên nói rằng vì tám cấu mà tạo ra tất cả tội.
[47] Tám khổ: 1. Sanh khổ; 2. Già khổ; 3.Bệnh khổ; 4. Chết khổ; 5. Khổ vì ân ái biệt ly; 6.Khổ vì oán thù gặp gỡ; 7. Khổ vì mong cầu không được; 8. Khổ vì ngũ uẩn nung nấu.
[48]
Chín não: Về quá khứ, ai quấy nhiễu mình, quấy nhiễu người thân thích của mình thì mình sanh não; ai khen ngợi kẻ oán của mình mình cũng sanh não. Quá khứ như thế thì hiện tại, vị lại cũng thế nên gọi là chín não.
[49]
Chín kết:
1. Ái kết: Say đắm cảnh ngũ dục không rời;
2. Khuể kết: giận dữ bất bình đối với nghịch cảnh;
3. Mạn kết: kiêu căng ngạo nghễ;
4. Vô minh kết: ngu si mờ ám đối với kẻ chân chánh;
5. Kiến kết: Tà kiến không tin nhơn quả;
6. Thủ kết: vọng chấp sự hiểu biết không chơn chánh và giới pháp sai lầm làm lắm điều ác;
7. Nghi kết: Do dự không tin chơn lý, không tu hành theo hạnh chơn tánh;
8. Tận kết: ghen ghét những bậc hiền đức;
9. Xan kết: keo bẩn không chịu bố thí lại làm nhiều điều ác. Chín điều này ràng buộc chúng sanh trong đường sanh tử vì nó khiến chúng sinh gây nhiều tội lỗi.
[50]
Chín duyên:
1. Minh duyên: nhơn ánh sáng mà tỏ rõ các sắc;
2. Không duyên, nhơn trống không, không có gì ngăn ngại mới tỏ được các sự tướng;
3. Căn duyên: duyên theo ngũ căn mới thành công dụng;
4. Cảnh duyên: có năm cảnh trần mới phát ra năm căn;
5. Tác ý duyên: cảnh cáo cho biết, như khi mắt thấy liền cảnh cáo cho thức thứ sáu( ý thức) biết mà phân biệt;
6. Căn bản ý duyên: tức là thức thứ tám;
7. Nhiễm tịnh ý duyên: Tức là mạt na thức;
8. Phân biệt ý thức: tức là thức thứ sáu;
9. Chủng tử duyên: Những hạt giống của cả tám thức.
[51]
Mười phiền não: Tức là ngũ độn sử và ngũ lợi sử. Ngũ độ sử:
1.Tham dục sử;
2. Sân khuể sử;
3. Vô minh sử;
4. Mạn sử;
5. Nghi sử; Ngủ lợi sử;
6. Thân kiến sử;
7. Biến kiến sử;
8. Tà kiến sử;
9. Kiến thủ sử;
10. Giới thủ sử. ngũ độn sử do ái trước mà có.
Ngũ lợi sử do sự nhận thức sai lầm mà có. Cả hai đều gây nên phiền não.
[52]
Mười triền:
1. Vô tàm: Có tội lỗi mà không biết hổ;
2. Vô quý: Có tội lỗi người khác biết được mà không thẹn;
3. Tât: Thấy người hiền đức, giàu sang sinh lòng ghen ghét;
4. Xan: Keo bẩn không bố thí;
5. Hối: Ăn năn những tội lỗi đã làm;
6. Thuỵ miên: Hôn mê không tỉnh sát được thân tam;
7. Điệu cử: Tâm niệm xáo động;
8. Hôn trầm: Thần thức hôn mê không rõ, biết chi cả;
9. Sân hận: Đối trước nghịch cảnh hay sanh tâm sân hận;
10. Phú: Che giấu tội ác.
[53]
Mười một biến sử:
1 Bất tín: Không tin các pháp lành;
2. Giải đãi: Lười biếng không làm những việc lành;
3. Bất tàm: làm điều ác mà không biết hổ;
4. Bất quý: làm việc ác mà không biết thẹn;
5. Đa tham: Tham lam của cải không biết nhàm chán;
6. Đa sân: Những việc không vừa ý thì nổi giận;
7. Đa si: đối với sự lý thế gian và xuất thế gian mê muội không rõ biết;
8. Hôn trầm: tối tăm trầm trệ;
9. Phóng dật: Tâm không muốn làm việc thiện, cứ tự ý buông lung;
10. Xan lận: tính keo bẩn chật hẹp, từ của cải cho đến lời nói cũng đều bo bo không bố thí cho ai;
11. Độc hại: độc ác hơn hùm beo, thường hay kiếm chuyện hại người hại vật.
[54]
Mười hai nhập: tức là sáu căn sung động với sáu trần mà phát sinh sáu thức, nhơn đó có sự yêu ghét và tạo nên tội lỗi.
[55]
Mười sáu chi kiến:
1. Ngã: đối với pháp ngũ uẩn vọng chấp có thật ngã thật pháp;
2. Chúng sinh: đối với pháp ngũ uẩn hoà hợp, vọng chấp có chúng sinh thật sinh ra;
3. Thọ giả: Đối với pháp ngũ uẩn vọng chấp có cái ta thọ báp trong một kì hạn;
4. Mạng giả: Đối với pháp ngũ uẩn mạng chấp có mạng căn của ta là thật;
5. Sanh giả: Đối với pháp ngũ uẩn vọng chấp có cái ta hay sanh mọi sự mọi vật;
6. Dưỡng dục: Đối với pháp ngũ uẩn vọng chấp có cái ta nuôi nấng mọi người và cha mẹ ta nuôi nấng ta;
7. Chúng số: Đối với pháp ngũ uẩn vọng chấp cho rằng chỉ có ta mới có những pháp số như năm ấm, mười hai nhập, mười tám giới;
8. Nhân: vọng chấp cho rằng chỉ có ta mới tu hành được, còn người khác không thể tu được;
9. Tác giả: đối với pháp ngũ uẩn vọng chấp cho rằng tay chân sức lực của ta có thể làm công việc được;
10. Sử tác giả: Đối với pháp ngũ uẩn vọng chấp có cái ta hay sai khiến người làm việ;
11. Khởi giả: Đối với pháp ngũ uẩn vọng chấp cho rằng ta hay khởi những nghiệp tội phước ở đời sau;
12. Sử giả: Đối với pháp ngũ uẩn vọng chấp có cái ta hay sai khiến người khác khởi những nghiệp tội phước ở đời sau;
13. Thọ giả: Đối với pháp ngũ uẩn vọng chấp rằng thân ta sẽ thọ quả báo tội phước ở đời sau;
14. Sử thọ giả: Đối với pháp ngũ uẩn vọng chấp cho rằng ta hay khiến người khác thọ quả báo tội phước ở đời sau;
15. Tri Giả: Đối với pháp ngũ uẩn vọng chấp ta có ngũ căn, hay biết được ngũ trần;
16. Kiến giả: Đối với pháp ngũ uẩn vọng chấp ta có nhăn căn hay thấy được tất cả sắc tướng;
Pháp này sở dĩ gọi là Kiến vì vọng chấp ngã nên khởi ra những sự hiểu biết sai lầm (tà kiến)
[56]
Mười tám giới: Tức là sáu căn, sáu trần, sáu thức làm nhơn duyên với nhau mà tạo ra tất cả tội lỗi.
[57]
Hai mươi lăm ngã: Cũng gọi là hai mươi năm chủng loại, đạo minh đế. Lối chấp đây là của pháp ngoại đạo Ca-ti-na. Pháp này cũng có tu thiền định, cũng có sức thần thông biết được việc trong tám vạn kiếp, còn việc trước tám vạn kiếp thì mờ mịt không biết được nên cho đó là minh đế. Từ minh cơ, tự tánh sanh ra trí đại cho đến thần đại khai ra thành hai mươi lăm đế hộp lại thành chín vị:
1. Minh sở tự tánh: Phái này đối với tám vạn kiếp về trước mờ mịt nên nhận cho chỗ mờ mịt ấy là tự tánh;
2. Tri Đại: Cũng gọi là giác đại: lúc minh sở giác tri tăng trưởng lần lần nên nói rằng từ minh sở sanh tri đại;
3. Ngã tâm: cũng gọi là ngã mạn tức là ngã chấp là do giác tri sanh ngã mạn nên nói do chi đại sanh ngã tâm;
4. Ngũ duy: Cũng gọi là ngũ vị túc là sắc, thính, hương, vị, xúc, năm thứ ấy do tâm ngã chấp sinh ra nên nói ngã tâm sanh ngũ duy;
5. Ngũ đại: địa, thuỷ, hoả, phong, không, năm thứ này đầy khắp các chỗ nên nói là đại;
6. Ngũ tri căn: ngũ căn: nhãn, nhĩ, tỵ, thiệt, thân, gọi là tri, vì năm thứ ấy đều có tri giác; nhơn ngũ đại mà thành nên nói ngũ dục sanh ngũ tri căn;
7. Ngũ tác nghiệp căn ngũ: Căn đây là miệng, tay, chân, tiểu tiện, đại tiện. Sở dĩ gọi là nghiệp vì năm thứ ấy sinh ra các tác nghiệp;
8. Tâm bình đẳng căn: tâm đây là nhục đoàn tâm tức là ý căn. Bởi căn này hay biết tất cả những căn cảnh mà sinh ra sự phân biệt nên gọi là bình đẳng. Nó cũng bởi ngã đại sinh ra hợp với ngũ tri, ngũ tác nghiệp thành tà căn;
9. Thần ngã: thức thú tám; ngoại đạo không biết chấp cho rằng thần ngã hay sinh ra tất cả pháp thường trú, không hư hoại cho đó là Niết bàn là chúa tể của 25 đế, không biết rằng vạn pháp duy tâm cứ mê theo minh tánh, sinh tâm bất tín và khinh khi Tam Bảo, huỷ báng chánh pháp.
[58]
Sáu hai kiến: đối với pháp ngũ ấm( sắc, thọ, tưởng, hành thức), mỗi ấm phái ngoại đạo khởi 4 món kiến;
1. Chấp sắc lớn, ngã nhỏ, ngã ở trong sắc;
2. Chấp ngã lớn: sắc nhỏ, sắc ở trong ngã;
3. Ngoài sắc chấp ngã riêng;
4. Ngã tức là sắc. Sắc ấm như thế thì các ấm kia cũng thế cộng thành hai mươi kiến trải ba đời nhơn trở thành sáu mươi kiến, thêm hai phần căn bổn là đoạn kiến và thường kiến thành 62 kiến. Ví từng kiến chấp sai lầm ấy nên người đời không chừa một tội lỗi nào mà không làm.
[59]
Chín mươi tám món sử: Khổ để trong cõi dục đủ cả mười sử:
1. Tham sử,
2. Sân sử,
3. Si sử,
4. Mạn sử,
5. Nghi sử,
6. Thân kiến sử,
7. Biên kiến sử,
8. Tà kiến sử,
9. Kiến thủ sử,
10. Giới thủ sử, Tập đế, diệt đế mỗi đế chỉ có bảy sử, trù thân kiến, biên kiến và giới thủ. Đạo đế có tám sử trừ thân kiến và biên kiến. Tứ đế trong cõi dục có 32 sử, ở cõi sắc va vô sắc cũng thế chỉ trừ của mỗi đế một sân sử, còn lại trong mỗi cõi là 28 sử. Cộng 56 sử ở cõi sắc và cõi vô sắc với 32 sử cõi dục thành 88 sử. ở cõi dục có bốn thứ tư hoặc (tham, sân, si, mạn); cõi sắc và vô sắc, mỗi cõi có ba thứ tư hoặc (tham, si, mạn). Thế là mười thứ tư hoặc trong ba mươi cõi với 88 sử (kiến hoặc) thành 98 sử.
[60]
Một trăm tám phiền não: Sáu căn đối với sáu trần có ba quan niệm không đồng: 1. Ưa; 2. Ghét; 3. Không ưa, không ghét, nhơn thành mười tám món phiền não. Sáu căn đối với sáu trần sanh ra mười tám món phiền não ấy, lại còn khởi ra mười tám món phiền não nữa là: khổ, vui, không khổ không vui, cộng thành 36. Trong ba đời: Quá khứ, hiện tại và vi lai mỗi đời có ba sáu món phiền não, tổng cộng là 108 món phiền não.
[61]
Các cửa hữu lậu: Chỉ cho tất cả phiền não lậu lạc trong ba cõi: 1. Dục lậu; 2. Hữu lậu; 3. Vô minh lậu.
[62]
Ba cõi: 1. Cõi dục; 2. Cõi sắc; 3. Cõi vô sắc.
[63]
Sáu đường: Trời, Người, Tu La, Địa Ngục, Ngã Quỷ, Súc Sinh.
[64]
Ba món chí tuệ:
1. Văn: do nghe lời phật dạy trong kinh luận hay nghe thiện hữu trí thức mà sinh được trí tuệ vô lậu;
2. Tư: Sau khi nghe rồi; so sự nghiệm xét những nghĩa ấy mà sinh được trí tuệ vô lậu;
3. Tu: Do nghe và nghiệm xét rồi gia công tu tập sinh được trí tuệ vô lậu.
[65]
Ba món khổ: 1. Khổ khổ; 2. Hành khổ; 3. Hoại khổ.
[66]
Ba nguyện lớn: 1. Nguyện độ tất cả chúng sinh, 2. Nguyện Thành Phật Đạo; 3. Nguyện được Niết bàn rốt ráo.
[67] Bốn tâm bình đẳng: Từ, Bi, Hỷ, Xả
[68]
Bốn tín nghiệp: Tin Phật, tin Pháp, tin Tăng, Tin Giới.
[69] Bốn đường ác: Địa ngục, Ngã Quỉ, Súc Sinh, Tu La.
[70]
Bốn vô uý:
1. Nhất thế chí: hiểu biết tất cả pháp thế và xuất thế;
2. Lậu Tận: Hoặc nghiệp sinh tử đều hết;
3. Thuyết chướng đạo: Nói pháp ma ngoại là chướng thánh đạo;
4. Thuyết tận khổ đạo: Nói những đạo pháp có thể diệt hết các khổ. Bốn điều này phật đối giữa đại chúng các hàng thiên ma, phạm thiên, sa môn, bà la môn,nói một cách tự tại không sợ ai, không ai nói được nên gọi là vô uý.
[71]
Năm đường: người, trời, ngạ quỉ, súc sinh, địa ngục.
[72]
Năm căn: 1.Tín căn; 2. Tân căn; 3. Niệm căn; 4. Định căn; 5. Tuệ căn.
[73]
Năm thứ tịnh nhãn:
1. Nhục nhãn: mắt thịt, thấy gần không thấy xa, thấy ngoài không thấy trong vì bị sắc chất chướng ngại;
2. Thiên nhãn: Mắt của chư thiên, nhơn tu thiền định mà thành. Mắt này có thể thấy tất cả, xa gần, trước sau, trên dưới, ngày đêm vì không có sắc chất làm ngăn ngại;
3. Tuệ nhãn: Mắt của hàng nhị thừa (Thinh Văn, Duyên Giác) quán thấy tất cả pháp đều không;
4. Pháp nhãn: Mắt của Bồ tát. Bồ tát vì độ sanh dùng pháp nhãn thanh tịnh quán khắp tất cả các pháp và tất cả chúng sinh đem những môn phương tiện dạy dỗ họ khiến họ tu chứng;
5. Phật nhãn: Mắt của phật có đủ bốn con mắt trước, nhưng có phần đặc biệt hơn như người thấy rất xa. Phật lại thấy rất gần, người thấy tối tăm Phật lại thấy sáng, cho đến không việc gì mà ngài không thấy, không biết không nghe, không cần để ý mà đều thấy nghe tất cả.
[74]
Năm phần pháp thân: 1. Giới; 2. Định; 3. Tuệ; 4. Giải thoát; 5. Giải thoát tri kiến.
[75]
Sáu món thần thông:
1. Thiên nhãn thông: Mắt thấy suốt tất cả không bị vật chi ngăn ngại;
2. Thiên nhĩ thông: Tai nghe thấu tất cả tiếng của chúng sinh không bị vật gì ngăn ngại;
3. Túc mạng thông: Rõ biết kiếp trước của mình và của chúng sinh không bị điều gì ngăn ngại;
4. Thần túc thông: Có thể dạo khắp vô lượng thế tự tại vô ngại;
5. Tha tâm thông: Rõ biết được tâm của tất cả chúng sinh;
6. Lậu tận thông: Tất cả phiền não đều đoạn trừ hết.
[76]
Sáu phép lục độ:
1. Bố thí: Đem các món tài pháp ban bố cho tất cả chúng sinh;
2. Trì giới: giữ gìn những giới hạnh;
3. Nhẫn nhục: Nhẫn chịu những nghịch cảnh;
4. Tinh tấn: siêng năng tụ tập năm pháp( bố thí…);
5. Thiền định: tâm thường chăm chú cảnh thiện;
6. Trí tuệ: được trí sáng suốt thông đạt, được các pháp và các tuệ đoạn hoặc chứng chơn.
[77]
Sáu diệu hành:
1. Sổ diệu: đếm hơi thở để thu nhiếp vọng tâm (từ 1 đến 10);
2. Tuỳ diệu: Nhiếp tâm theo hơi thở biết hơi ra hơi vào;
3. Chỉ diệu: yên lặng suy nghĩ;
4. Quán diệu: Phân biệt rõ ràng;
5. Hoàng diệu: Chuyển tâm chiếu lại;
6. Tịnh diệu: Tâm không nương tựa vào đâu, không sanh mối nghi xằng.
[78]
Hoa thất tịnh:
1. Giới tịnh: Động tác của tâm khẩu thanh tịnh;
2. Tâm tịnh: Tâm thanh tịnh không còn nhiễm trước;
3. Kiến tịnh: Thấy được chơn tánh, các pháp không còn khởi vọng chấp;
4. Độ nghi tịnh: Hiểu biết thấu đáo không còn ngờ vực;
5. Phân biệt đạo tịnh: Phân biệt rõ ràng chánh đạo tà đạo;
6. Hành đạo chi kiến tịnh: Chi kiến thật hành thiện pháp, các pháp ác bị đoạn trừ, được thanh tịnh sáng suốt;
7. Niết bàn tịnh: chứng được Niết bàn, xa lìa các cấu nhiễm.
[79]
Nước bát giải: tu theo phép quán bát bội xả:
1. Nội hữu sắc tướng ngoại quân sắc: vì muốn diệt trừ lòng tham đắm, người tu hành trước phải quán thân mình là vật nhơ nhớp, nhưng vì còn lòng tham đối với thân người nên cũng phải quán cái thân người khác cũng như thế;
2. Nội vô sắc hướng ngoại quán sắc: mới diệt được sắc tướng trong thân, nhưng lòng tham dục đối với người ở cõi dục khó đoạn hết;
3. Tịnh bội xả thân tác chúng: đến đây không còn tham trước tướng bất tịnh ở ngoài, chỉ ở trong cảnh định luyện tập tâm sắc quang minh trong suốt (tịnh bội xả). Tâm đã sáng suốt thì vui càng tăng trưởng đầy khắp trong thân (thân bội xả);
4. Hư không xứ bội xả: Người tu hành diệt được lòng ham muốn sắc thân bất tịnh của mình và của người được nhứt tâm duyên không (cùng với không tương ứng) tức nhập được định (vô biên hư không ứng);
5. Thức xứ bội xả: Do xả nên nói hư không xứ định, nhất tâm duyên thức. Lúc nhập định này tức quán định, nhàm chán không ưa đắm nữa;
6. Vô sở hữu xứ bội xả: Do xả thức xứ, nhất tâm duyên vô sở hữu xứ. Lúc nhập định này tức quán định y nơi năm uẩn đều không thật nên không còn ái trước nữa;
7. Phi hữu tưởng phi vô tưởng xử bội xả: Do xả vô sở hữu xử định, nhất tâm duyên phi hữu tưởng, phi vô tưởng. Lúc nhập định này y nơi năm uẩn đều không thật nên tâm sinh nhàm chán;
8. Diệt thọ tưởng bội xả: Vì nhàm chán cái tâm tán loạn nên nhập định cho diệt hẳn tâm ấy đi, khi đắc đinh cả rồi thì thành ra 8 đạo giải thoát nên gọi là bát giải.
[80]
Cửu đoạn trí: Cái trí đoạn được các hoặc trong tam giới cửu địa; 1. Ngũ thú tạp cư địa; 2. Ly sinh hỷ lạc địa; 3. Định sinh hỷ lạc địa; 4. Ly hỷ điệu lạc địa; 5. Xả niệm thanh tịnh địa; 6. Không vô biên xứ địa; 7. Thức vô biên xứ địa; 8. Vô sở hữu xứ địa; 9. Phi phi tưởng xứ địa.
[81]
Hạnh thập địa; 1. Hoan hỷ; 2. Ly cấu; 3. Phát quang; 4. Diệm tuệ; 5. Nan thắng; 6. Hiện hành; 7. Viễn hành; 8. Bất động; 9. Thiện tuệ; 10. Pháp vân.
[82]
Mười một món không:
1. Nội không: Không có tình;
2. Ngoại không: Không có cảnh;
3. Nội ngoại không: Tình, cảnh cảnh đều không;
4. Hữu vi không: Cả sáu cõ phàm cũng không;
5. Vô vi không: Cả pháp xuất thế nhị thừa cũng không;
6. Vô thỉ không: Không cả quá khứ;
7. Tinh không: Hiện tại không trụ ở chỗ không;
8. Vô sở hữu không: Vị lai vô tận cũng không;
9. Đệ nhất nghĩa không: Các pháp xuất thế cũng đều không;
10. Không không: không cũng không có nữa;
11. Đại không: Tuyệt đối vô ngại không. Đối với cái không ấy đều hiểu chân thật, thường ở trên toà pháp không nên mới được thể tâm tự tại mà có thể chuyển mười hai pháp luân được.
[83]
Mười hai pháp luận. Khi phật mới thành đạo, ba lần nói pháp tứ đế cho các vị tuỳ kheo nghe;
1. Thị chuyển: Nói khổ, tập, diệt đạo.
2. Khuyến chuyển: Khuyên nên nhận biết khổ, tập, diệt đạo;
3. Chứng chuyển: Phật cho biết đó là khổ mà chính phật đã biết rồi không cầ biết nữa, chỉ bảo các tỳ kheo phải biêt đó: Là tập. Phật đã đoạn rồi, không cần đoạn nữa, chỉ bảo các tỳ kheo phải đoạn: Đó là diệt. Phật đã chứng rồi không cần phải chứng nữa, chỉ bảo các tỳ kheo Phật chứng: Đó là đạo, phật đã tu rồi không cần tu nữa, chỉ bảo các tỳ kheo phải tu. Đó là ba lần, chuyển thành mười hai hành pháp luận
[84]
Mười tám món bất cộng:
1. Thân không lỗi;
2. Miệng không lỗi;
3. Niệm không lỗi;
4. Không có tâm hưởng khác;
5. Không có tâm bất định ;
6. Không có tâm không biết mà đã xả;
7. Sự muốn không giảm;
8. Tinh tấn không giảm;
9. Niệm không giảm;
10. Tuệ không giảm;
11. Giải thoát không giảm;
12. Giải thoát tri kiến không giảm;
13. Tất cả thân nghiệp theo trí tuệ mà hành động ;
14. Tất cả khẩu nghiệp theo trí tuệ mà hành động;
15. Tất cả ý nghiệp theo trí tuệ mà hành động;
16. Trí tuệ biết đời vị lai không ngại;
17. Trí tuệ biết đời quá khứ không ngại;
18. Trí tuệ biết đời hiện tại không ngại;
19. Món này nói là bất cộng pháp vì chỉ riêng Phất chứng được mà thôi.
[85]
Tám thói xấu: 1. Lợi: Những lợi lộc chỉ muốn có ích cho riêng mình; 2. Suy: Giảm bớt; 3. Huỷ: Huỷ báng; 4. Dự: khen trước mặt chê sau lưng; 5. Xưng: Khen; 6. Cơ: Chê bai; 7. Khổ: Bức bách khổ não; 8. Lạc: ý khoan khoái.
[86]
Mười hai nhân duyên:
1. Vô minh: Không rõ được bản tính;
2. Hành: Làm những nghiệp lành và dữ;
3. Thức: Chỉ có a lại da thức;
4. Danh sắc;
5. Lục nhập: Sáu căn nhập với sáu trần;
6. Xúc: Sáu căn xúc sáu trần;
7. Thọ: Lãnh nạp những cảnh tốt xấu, khổ, vui;
8. ái: Tham mến nhưng vật tốt đẹp;
9. Thủ: Do sự ham muốn quá nhiều đối với cảnh ngũ trần;
10. Hữu: Vì sự ham muốn tìm cầu nên khởi những nghiệp nhơn thiện ác phải chịu quả báo trong ba cõi;
11. Sanh: Do nghiệp nhơn thiện ác nên phải thọ sanh trong sáu đường;
12 . Lão tử: Sau khi thọ sanh thì thân ngũ ấm dần dần biến hoại.
[87]
Muời phép ba la mật: 1. Bố thí; 2. Trì giới; 3. Nhẫn nhục; 4. Tinh tấn; 5. Thiền định; 6. Trí tuệ; 7.Thiện xảo phương tiện; 8. Nguyện trên cầu phật đạo dưới hoá độ chúng sinh; 9. Lực dụng: Hạnh mãn, công thành; 10. Trí tuệ: Quyết đoán không lầm.
Pháp từ bi thủy sám
(Quyển Hạ)
Tất cả chư Phật vì thương xót chúng sinh, mới nói phép đạo tràng Thuỷ Sám. Ngày nay chúng con xin đem cả thân mệnh, hướng về hết thảy chư Phật
Đảnh lễ chư phật rồi thứ lại sám hối.
Trên kia đã sám hối ba nghiệp của thân, bốn nghiệp của miệng. Bây giờ chúng con xin sám hối tất cả nghiệp chướng đối với Phật, Pháp, Tăng.
Trong kinh Phật dạy: “Thân người khó được, Phật pháp khó nghe, chúng tăng khó gặp, tín tâm khó sinh, sáu căn khó đủ, bạn tốt khó gặp”. Ngày nay chúng ta nhờ kiếp trước đã gây nhiều căn lành, nên mới được làm thân người, sáu căn đầy đủ, lại gặp bạn lành, được nghe chính pháp. Nếu trong lúc này không hết lòng tinh tiến tu hành, ắt sau này sẽ bị chìm đắm trong muôn ngàn khổ đau không biết ngày nào ra khỏi bởi thế hôm nay, chí thành càu xin sám hối.
Chúng con…………………. từ vô thỉ đến nay thường bị vô minh che tâm tính, phiền não chướng ý thức, thấy hình tượng Phật không hết lòng cung kính, khinh miệt chúng tăng, tàn hại bạn tốt, phá tháp huỷ chùa, thiêu đốt kinh tượng làm hại kinh Phật; hoặc mình ở nhà đẹp để tượng Phật, Bồ Tát ở chỗ thấp hèn, bẩn thỉu, khói hun, nắng táp, gió thổi mưa chang, bụi đất dính đầy, chim chuột đục khoét; hoặc thờ chung trong phòng ngủ không từng kính lễ, hoặc ở trần trước tượng phật, không sửa y phục trang nghiêm, chỉnh tề; hoặc che đậy đèn đuốc, đóng kín cửa chùa, che lấp ánh quang minh chỗ Phật. Những tội như thế, ngày nay chúng con đều xin chí thành sám hối.
Lại từ vô thỉ đến nay, đối với pháp Phật, lấy tay bẩn cầm các quyển kinh, hoặc đang khi đọc tụng, xem nói lời tục tĩu, phi pháp; hoặc để kinh trên đầu giường ngồi đúng không cung kính; hoặc để trong rương tráp, sâu mọt ăn nát; hoặc quấn tròn làm cho sổ rớt, mất nát, thứ tự lộn lẫn, bộ loại; hoặc lôi kéo vướng đứt làm rách giấy vướng chữ, tự mình không tu tập, không chịu lưu truyền. Những tội như thế ngày nay chúng con đều xin chí thành sám hối.
Lại nằm dài nghe kinh, nằm ngửa tụng đọc, hoặc nói cười lớn tiếng, làm rộn người khác nghe pháp; hoặc giải sai lời phật dạy, nói khác Thánh ý, không phải chính pháp nói là chính pháp, chính là chính pháp, nói không phải chính pháp; chẳng phạm nói phạm, nói phạm chẳng phạm, tội nhẹ nói nặng, tội nặng nói nhẹ, hoặc sao chép kinh sách đoạn trứơc để đoạn sau, đoạn sau đem để đoạn trước, hoặc đoạn trước đoạn sau đem để ở giữa hoặc đoạn giữa đem để ra trước sau; hoặc thêu dệt lời văn trong kinh Phật, để làm sách riêng của mình; hoặc vì danh dự lợi dưỡng, cung kính mà nói Pháp; không lòng vị pháp, chỉ vì muốn tìm lỗi của pháp sư mà bàn luận nghĩa lý; không vì tăng tiến sự hiểu biết để cầu pháp xuất thế, mà chỉ đàn hạch một cách vô lý, hoặc khinh mạn lời phật, tôn trọng tà giáo, chê bai Đại Thừa, khen ngợi Thanh Văn. Những tội như thế vô lượng vô biên, ngày nay chúng con đều xin sám hối.
Lại từ vô thỉ đến nay, đối với chúng Tăng gây ra các nghiệp chướng, như giết bậc a la hán, phá sự hoà hợp của chúng tăng, hại những người phát tâm Vô thượng Bồ đề, dứt tuyệt giống Phật, làm cho Thánh đạo không lưu hành được hoặc lột xẻ người tu hành, tra khảo bậc Sa Môn, đánh đập đầy đoạ, dùng lời thô bỉ mắng nhiếc,hoặc phá giới hạnh thanh tịnh làm mất hết uy nghi; hoặc khuyên người khác bỏ đạo bát chính; hoặc giữ và thực hành theo năm phép tà[1]; Hoặc giả dạng nhà sư trộm của thường trụ tiêu sài việc riêng. Những tội như thế, ngày nay chúng con đều xin sám hối.
Hoặc để mình trần, hay mặc y phục mỏng manh đường đột đến trước kinh phật; hoặc mang giầy bẩn thỉu đi vào điện Phật, dẫm nên thác phật; hoặc mang guốc vào chùa, hoăc đàm nhổ nước miếng trong nhà thiền, làm dơ nhớp chỗ phật và chúng Tăng ở; hoặc đánh xe cưỡi ngựa xông pha trong chùa chiền tịnh xá. Phàm đối với Tam Bảo mà khởi ra những tội lỗi như thế, thật vô lượng, vô biên ngày nay chúng con chí thành hướng về mười phương chư Phật, Tôn Pháp, Thánh chúng cầu xin sám hối.
Nguyện nhờ công đức sám hối ấy, chúng con đời đời kiếp kiếp thường gặp được Tam Bảo, để tôn ngưỡng cung kính, không bao giờ chán nản, lại có gấm lụa tốt đẹp, anh lạc quí giá, trăm nghìn âm nhạc, các món danh hương, các thứ hoa quả tốt tươi có đủ những vật sở hữu trên đời để cúng dàng. Nếu có vị nào thành Phật chúng con nguyện đến trước khuyến thỉnh mở của cam lồ cứu độ chúng sinh. Nếu có vị Phật nào nhập niết Bàn, chúng con nguyện được cúng dàng một lần sau chót. Còn như trong hàng chúng tăng, chúng con nguyện tu sáu phép hoà kính, được sức tự tại, trùng hưng Tam Bảo trên hoằng dương Đạo Phật, dưới hoá độ chúng sinh.
Những tội hoặc nặng hoặc nhẹ, đối với tam bảo đã sám hối rồi, còn lại những tội lỗi khác chúng con xin theo thứ lớp sám hối hết thảy. Nhưng trong kinh nói: “Có hai mạng người được mạnh mẽ: một là tự mình không gây tội, hai là đã gây tội mà biết ăn năn sám hối”. lại có hai phương pháp trong sạch, có thể làm cho chúng sinh diệt trừ được các món chướng ngại, một là biết khổ luyện, tự mình không làm ác, hai là biết thẹn, nên không xúi người khác làm ác. Có hổ thẹn như thế mới gọi là người, nếu không biết hổ thẹn thì không khác cầm thú. Bởi vậy ngày nay chúng con chí thành qui y phật, xin đúng theo phép mà sám hối.
Lại từ vô thỉ đến nay, vì mê tín tà kiếm nên giết hại chúng sinh để cúng tấu quỉ thần, lị mị vọng lượng, cầu được sống lâu nhưng không bao giờ được hoặc nói dói thấy ma quỉ, rồi giả xưng là thần để gạt người. Những tội như thế ngày nay chúng con đều xin sám hối.
Lại từ vô thỉ đến nay, hoặc hành dộng láo sược, tự cao tự đại, hoặc ỷ dòng quí tộc khinh dẻ mọi người, cậy mình sang trọng khinh kẻ hèn hạ, hoặc ỷ sức mạnh ăn hiếp kẻ yếu, hoặc uống rượu rồi gây sự loạn đả không kể người thân sơ, say sưa xuất ngày không biết tôn ty, những tội ngư thế ngày nay chúng con xin sám hối.
Lại như tham ăn uống không tiếc độ, ăn gỏi thịt gỏi cá, hoặc ăn năm thứ cây nồng[2] mùi hôi bay nên xông uế các kinh tượng, xua đuổi những kẻ tu hành giữ giới thanh tịnh; buông lung tâm ý, xa lìa người lành gần gũi bạn ác. Những tội như thế ngày nay chúng con đều xin sám hối. Lại có tính cống cao, bầy điều giả dối, bắt người khác theo mình, càng bướng cố chấp cho mình là hay, ương ngạnh chống báng không biết nhân tình, cho mình là phải, người khác là quấy và hay hi vọng ở sự may rủi. Những tội như thế ngày nay chúng con xin sám hối.
Còn lâm đến chỗ tiền tài lại không nhường nhịn, không liêm sỉ, mua bán rượu thịt, lừa dối kẻ sống hoặc cho vay nặng lời, tính từng ngày từng giờ góp chứa một cách cay nghiệt, tham cầu không biết chán; hưởng thụ của dâng cúng không biết hổ thẹn; hoặc không biết giới đức mà lạm nhận của tín thí. Những tội như thế ngày nay chúng con đều xin sám hối.
Và đánh đập tôi tớ, sai khiến trẻ con làm việc nặng, không kể đến sự đói khát lạnh nóng của chúng; hoặc phá dỡ cầu cống ngăn trở sự đi lại, những tội như thế ngày nay chúng con đều sám hối.
Lại để mạc ý mình phóng túng, lung lăng tán loạn, chỉ để thì giờ đánh xu bồ, đánh cờ tướng, hoặc vây đoàn hợp lũ, uống ăn rượu thịt, chén tạc chén thù làm rối cho nhau; nói chuyện vu vơ, hay bàn luận chuyện thiên hạ, hết năm này qua năm khác để ngày giờ trôi qua không lợi ích gì; mỗi đêm ba thời không tụng kinh ngồi thiền, lười biếng, giải đãi cứ nằm dài, suốt ngày không để tâm quán sáu món niệm xứ[3] thấy người khác có việc hơn mình lại sinh ghen ghét ôm lòng hiểm độc, khởi đủ phiền não để cho gió lốc vật dục thổi vào củi lửa tội lỗi, cháy luôn không ngớt, thiêu mất những điều lành nhỏ của ba nghiệp. Khi những pháp lành đã hết thì hoá ra rất xiểm đề, đoạ vào địa ngục lớn, không có kì hạn ra được. Bởi thế ngày nay, chúng con cúi đầu hướng về mười phương tam bảo xin sám hối hết thảy.
Tất cả tội lỗi từ trước tới nay, hoặc nhẹ hoặc nặng hoặc thô[4] hoặc tế[5],hoặc tự mình làm, hoặc bảo người khác làm, hoặc thấy người khác làm vui mừng, hoặc dùng thế lực bắt buộc người khác làm, cả đến những tội khen người làm ác, ngày nay chúng con chí thành đều xin sám hối.
Nguyện nhờ công đức sám hối các tội ác ấy, chúng con đời đời kiếp kiếp được từ hoà, trung hiếu, khiêm nhường, nhẫn nhục, biết liêm sỉ, biết chào đón trước, sửa mình chính đáng, trong sạch nhân nghĩa, nhường nhịn, xa lìa bạn ác, thường gặp duyên lành, thâu nhiếp được sáu căn, giữ gìn được ba nghiệp, nhẫn lại được khổ nhọc, tâm không thoái lui, cứ lập chí tu hành đắc đạo, không phụ bạc chúng sinh.
Phát nguyện rồi đem hết thân mệnh kính lễ chư Phật
Trước đã sám hối những phiền não chướng, nghiệp chướng, ngay theo thứ lớp giãi bày những quả báo chướng còn lại, xin sám hối hết thảy.
Trong kinh nói: “Khi nghiệp báo đã đến, chẳng phải trong không trung, trong biển, trong hang núi, không có chỗ nào thoát khỏi được quả báo, chỉ có sức sám hối mới được diệt trừ”. Vì sao biết được? Vì như ông Thích Đề Hoàn Nhân[6] khi thấy năm tướng suy[7] hiện ra, trong lòng khiếp sợ chí thành qui y Tam Bảo, thì năm tướng xấu xa ấy liền tiêu diệt, lại còn thêm tuổi thọ. Những chuyện như thế trong kinh rất nhiều, không phải là một. Thế mới biết sự sám hối hay diệt trừ được tai hoạ.
Song kẻ phàm phu nếu không gặp bạn tốt dẫn đường, thời không có việc nào mà không làm, đến nỗi khi sắp chết, cảnh địa ngục gớm ghê hiện ra trước mắt, chính lúc ấy lại hối hận sợ hãi. Ôi! Ngày trước không tu điều lành để đến ngày cùng ăn năn sao kịp. Phước báo hay tai ương tự mình gieo trồng từ trước, nay cú thẳng lối mà vào địa ngục, một mình mình đi đến, để lăn vào vạc dầu sôi, thân tâm tan nát, tinh thần thống khổ. Tới lúc đó dầu muốn lạy hay sám hối một câu, cũng không dễ gì được nữa.
Vì thế tất cả mọi người chớ ỷ mình tuổi trẻ sức mạnh có tiền tài thế lực mà lười biếng giải đãi, tự ý buông lung. Một khi khổ chết đã đến thì không luận già, trẻ, nghèo, giàu, sang, hèn đều tiêu ma hết. Quỉ vô thường đến thình lình không cho ai biết trước. Mệnh người vô thường như giọt sương mai, một hơi thở ra tuy có đó, nhưng hơi hít vào không chắc gì còn được. Thế vì cớ chi mà không sám hối? Nếu sứ giả ngũ thiên[8] hay quỉ La sát thoạt nhiên đi đến, dầu tuổi trẻ sức mạnh đến đâu cũng không thể tránh. Lúc ấy dẫu có nhà đẹp, lầu cao vẫn không ích gì đến người, xe tốt ngựa hay không đem theo được, vợ con quyến thuộc cũng không còn là người thân, những đồ thất trân quí giá cũng chỉ để cho người khác hưởng. Lấy đó mà nói thì quả báo ở đời đều giả dối, không chắc thật. Còn như ở cõi trời tuy vui thật nhưng rốt cuộc cũng sẽ tan nát. Khi sự sống hết thì vẫn phải đoạ lạc trong tam đồ. Vì thế Phật bảo ông Tu Đạt Đa: “Thầy ngươi là Uất Đầu Lam Phất lợi căn sáng suốt, đã hàng phục được phiền não, đến cõi trời phi phi tưởng rồi, mà khi mệnh chung còn phải đoạ vào đường súc sinh, làm con phi li[9] huống chi người khác”. Thế mới biết hễ chưa lên tới Quả Thánh, thì còn bị luôn chuyển qua các đường ác. Nếu không cẩn thận, một mai thì lình thân chịu chỗ đó, thật đáng hối hận. Xem như ngày nay bi tội phải đến cửa công, đó là khổ nhỏ mà tâm tình đã sợ hãi, quyến thuộc đã khủng khiếp cầu cứu trăm bề. Đối với nỗi khổ trong địa ngục còn gấp trăm vạn ngàn lần hơn, không thể so sánh được.
Chúng con cùng nhau trải vô số kiếp, tội lỗi chồng chất như núi Tu Di, nghe như vậy làm sao cứ an nhiên không sợ hãi, không kinh khủng, để về sau mắc phải những nỗi khổ ấy, đáng đau đớn biết bao! Vì thế ngày nay, chúng con chí thành cầu xin sám hối.
Lại từ vô thỉ đến nay, chúng con…………………….có nhiều báo chướng nhưng nặng nhất chỉ có địa ngục a tỳ. Như trong kinh đã nói rõ, nay xin nói sơ về hình tướng của địa ngục a tỳ.
Chung quanh ngục có bảy lớp thành sắt, có bẩy lần lưới sắt giăng kín ở trên, phía dưới có bẩy tầng dao sắc, rậm như rừng và vô số ngọn lửa dữ luôn luôn thiêu đốt. Bề dài bề rộng của ngục này tính có tám muôn bốn ngàn do tuần tội nhân đầy trong ấy, nhưng vì nhân duyên của tội nghiệp nên không làm trở ngại, lửa phía trên hắt xuống, lửa ở dướt bốc lên, lan khắp bốn phương Đông, Tây, Nam, Bắc. Tội khổ trong ngục ấy như cá bi chiên trong chảo, dầu mỡ đều chảy ra. ở bốn cửa thành có bốn con chó đồng, thân hình dài rộng đến bốn nghìn do tuần, nanh dài, móng nhọn, mắt sáng như điện chớp. Lại có vô số giống chim mỏ sắt vỗ cánh bay lên mổ khoét thịt người có tội. Quỉ sứ đầu trâu hình như La Sát, có chín đuôi như đinh ba bằng sắt, lại có chín đầu, trên đầu có mười tám sừng, mỗi sừng có sáu mươi bốn mắt, từ mỗi con mắt tiết ra sức nóng như thiêu đốt tội nhân. Mỗi khi nóng giận chúng gào thét tiếng vang như sấm. Lại có vô số bánh xe dao, từ trên không trung bay xuống, xoáy vào đỉnh đầu tội nhân, rồi xoáy suốt xuống chân mà ra ngoài. Tội nhân đau đớn thấu xương tuỷ, nhức nhối tận tim gan, cứ như thế trải qua không biết bao nhiêu năm. Cầu sống không được, cầu chết không được. Những tội báo như thế ngày nay chúng con hổ thẹn cúi đầu cầu xin sám hối.
Kế đến chúng con xin sám hối những tội báo: Đầu, thân rơi rã trong địa ngục đao sơn, kiếm thụ bị thiêu nướng trong địa ngục vạc dầu, lò than: sám hối những tội lỗi bị thiêu đốt trong địa ngục, giường sắt, cột đồng; sám hối những tội báo bị đè nghiến mổ xẻ trong địa ngục xe dao, xe lửa, sám hối những tội báo trong địa ngục kéo lưỡi để trâu cày; sám hối những tội báo làm cho ngũ tạng cháy tiêu trong địa ngục, nuốt hòn sắt nóng, uống nước đồng sôi, sám hối những tội báo sương thịt nát tan trong địa ngục, cột sắt, sám hối trong tội báo da, thịt, sương, tuỷ rơi lìa từng mảnh trong địa ngục cuốn dây sắt nóng, sám hối những tội lỗi bị bứt dứt ngạt thở trong địa ngục sông tro phẩn, sám hối những tội da dẻ lạnh, cóng nứt, da trong địa ngục nước mặn đóng giá băng, sám hối những tội báo tàn hại lẫn nhau trong địa ngục chó sói, chim sắt, chó săn, sám hối những tội báo đâm chém cấu xé nhau trong địa ngục đao binh móng vuốt, sám hối những tội báo bị rang nướng trong địa ngục hầm lửa, sám hối những tội báo bị hình hài tan nát trong địa ngục hai tảng đá ép lại, sám hối những tội báo bị dóc lột trong địa ngục bôn bề núi đá xô ép lại, sám hối những tội lỗi bị chém sẻ trong địa ngục, núi thịt u ám, sám hối những tội lỗi bị chặt đứt trong địa ngục cưa xẻ đóng đinh; sám hối những tội lỗi bị mổ cắt trong địa ngục gậy sắt treo ngược, sám hối những tội báo phiền oan trong địa ngục đốt nóng kêu gào, sám hối những tội báo chịu cảnh đêm dài mù mịt không bóng mặt trời mặt trăng và sao trong khoảng lớn nhỏ núi Thiết Vi, sám hối những tội lỗi trong địa ngục a ba ba, địa ngục a bà bà, địa ngục a tra tra, địa ngục A la la. Trong tất cả các địa ngục lạnh nóng như thế có phụ thêm tám muôn bốn ngàn địa ngục cách tử.
Những tội khổ trong đó bị chiên nấu đau đớn, bị lột da dóc thịt, chẻ xương đập tuỷ, rút ruột, bức phổi, nhiều nỗi khổ khác không thể nghe không thể nói. Nam mô Phật! Những người bây giờ đang bị đoạ vào các chốn ấy hoặc là cha mẹ hay họ hàng của chúng con từ vô thỉ kiếp chúng con cùng họ, sau khi chết sẽ bị đoạ trong các địa ngục như thế.
Ngày nay chúng con rửa sạch lòng trần, cúi đầu hướng về mười phương Chư Phật, các bậc Đại Bồ Tát cầu xin sám hối, khiến cho tất cả tội báo kia đều tiêu diệt.
Nguyện nhờ công đức sám hối những tội báo trong địa ngục, chúng con phá được bức thành sắt chốn A tỳ làm thành cõi Tịnh Độ, không còn cái tên “ác đạo”, bao nhiêu thống khổ sạơ sệt trong các địa ngục đều chuyển thành những duyên vui sướng; núi dao rừng kiếm biến ra rừng báu; lò lửa vạc dầu hoá thành hoa sen; lính ngục đầu trâu chừa bỏ sự bạo ngược, khởi lòng Từ Bi không còn niệm ác. Và chúng sinh trong đường địa ngục thoát khỏi quả khổ, không gây thêm nhân ác khác, thụ hưởng sự yên vui như ở cõi Tam Thiền, đồng thời phát tâm cầu đạo vô thượng.
Sám hối và phát nguyện xong, xin hết lòng kính lễ Thường Trụ Tam Bảo.
Trước đã sám hối những tội báo trong địa ngục, nay xin sám hối những tội ác trong ba đường ác. Trong kinh Phật nói: “Con người vì nhiều ham muốn, nhiều tham cầu lợi dưỡng nên khổ não cũng nhiều”. Người biết đủ tuy nằm dưới đất mà vẫn lấy làm yên vui, người không biết đủ, dù ở thiên đường cũng không vừa ý. Song người đời thình lình có tai nạn nguy cấp, thì thường bỏ hết tài sản không kể nhiều ít. Thế mà không biết thân này khi lâm vào hố thẳm tam đồ, hễ một hơi thở không trở lại thì phải bị đoạ lạc. Thoảng như có người trí thức khuyên làm việc công đức để dự trữ pháp lành cho đời sau, thì lại cứ cố chấp keo bẩn không chịu làm theo lẽ phải. Những người như thế thật ngu hoặc biết bao! Vì sao? Trong kinh Phật nói:” Lúc sinh không đem lại một đồng nào, lúc chết cũng không cầm được một đồng nào đem đi”. Người đời phải khổ than góp chứa được tiền của, chỉ đèo thêm sự lo âu phiền muộn không ích gì cho mình, mà người khác hưởng hết. Không chút duyên lành, không một mảy công đức để nhờ cậy đến khi chết phải bị đoạ vào đường ác. Vì vậy ngày nay chúng con chí thành đem thân mệnh đem về ngôi Tam Bảo, cầu xin sám hối.
TỪ BI THỦY SÁM PHÁP – PHẦN 4
Kế đến chúng con xin sám hối những tội báo ngu tối trong loài súc sinh; sám hối những tội báo mang nặng kéo cày đền nợ cũ trong đường súc sinh; sám hối những tội báo không chân hai chân, bốn chân hay nhiều chân trong loài súc sinh; sám hối những tội báo trong lông, cánh, mai, vẩy, trong thân bị các giống trùng nhỏ cắn rỉa, ở các loài súc sinh có vô số tội báo như thế, ngày nay đều xin chí thành sám hối.
Chúng con lại xin sám hối những tội báo luôn luôn chịu sự đói khát, trải qua trăm ngàn vạn năm không nghe đến tên cơm nước trong loài ngã quỉ; sám hối những tội báo ăn uống máu mủ phẩn dơ trong loài ngã quỉ; sám hối những tội báo mỗi khi động thân thì tất cả chi tiết đều cháy trong loài ngã quỉ, sám hối những tội báo bụng lớn cổ nhỏ trong loài ngã quỉ. Trong loài ngã quỉ, có vô số tội báo như thế, ngày nay cúi đầu xin sám hối.
Chúng con lại xin sám hối những tội báo hay nịnh hót kiêu mạn trong loài tu la, quỉ thần; sám hối những tội báo gánh cát mang đá lấp sông trấn biển trong loài quỉ thần; sám hối những tội báo ăn uống máu thịt, chịu đủ mọi sự xấu xa trong loài quỉ thần La Sát, Cưu bàn trà. Trong loài quỉ thần có vô lượng vô biên tội báo như thế, ngày nay chúng con hướng về mười phương Chư Phật, đại địa Bồ Tát, cầu xin sám hối, khiến cho những tội báo ấy đều tiêu diệt.
Nguyện nhờ công đức sám hối những tội báo trong đường súc sinh, chúng con đời đời kiếp kiếp diệt hết tất cả ngu si, biết được nghiệp duyên của mình, trí tuệ sáng suốt, không làm thân trong các đường ác.
Nguyện nhờ công đức sám hối những tội báo trong đường ngã quỉ, chúng con đời đời kiếp kiếp lìa khổ xan lận, đói khát, thường được ăn những pháp vị cam lồ giải thoát.
Nguyện nhờ công đức sám hối những tội báo trong đường tu la quỉ thần, chúng con đời đời kiếp kiếp tính tình chất trực xa hẳn nhân tà mệnh, trừ các quả báo xấu xa, và làm được nhiều phúc lợi cho cả nhân thiên.
Chúng con…………………………nguyện từ nay trở đi cho đến đạo tràng, không còn chịu những tội báo trong bốn đường ác, chỉ trừ lòng đại bi cứu độ chúng sinh, lấy sức thê nguyện ở chung trong ấy, không khi nào chán nản.
Chúng con………………………….đã sám hối những tội báo trong ba đường ác, nay theo thứ lớp cầu xin sám hối những tội báo chốn nhân thiên.
Chúng con cùng nhau thọ bẩm thân Mệnh ở cõi Diêm phù này, tuy nói một trăm năm chớ có mấy ai sống trọn. Trong thời gian đó số người trẻ tuổi chết non không thể nào lường, những khổ não còn nung nấu bức bách thân hình, lo rầu sợ hãi không ngớt phút nào. Sở dĩ như thế, bởi căn lành rất ít nghiệp ác quá nhiều, đến nỗi trong đời hiện tại làm việc gì cũng không được vừa ý. Nên biết đó là dự báo của những nghiệp ác ở đời quá khứ còn lại. Bởi thế nên ngày nay, chúng con xin sám hối vô lượng dư báo ấy trong cõi nhân thiên từ vô thỉ cho đến thời hiện tại và vị lai; sám hối những tội báo tai ương túc trái, tàn tật trăm bệnh, sáu căn không đủ ở cõi người; sám hối những tội báo sinh vào nơi hoang dã xa cách mọi người, luôn luôn bị tà kiến, tám nạn[10], ba ác[11]; sám hối những tội báo bị nhiều bệnh hoạn, gầy còm, chết yểu, chết oan, ở cõi người; sám hối những tội báo bà con quyến thuộc không đoàn tụ, ở cõi người; sám hối những tội báo bị khổ vì bạn bè tan nát ân ái chia lìa, ở cõi người, sám hối những tội báo oán cừu gặp gỡ, ưu sầu khiếp sợ, ở cõi người; sám hối những tội báo bị nạn lửa, trôm cướp đao binh nguy hiểm, kinh khủng khiếp nhược, ở cõi người; sám hối những tội báo bị nạn nước lửa, trộm cướp đao binh nguy hiểm, kinh khủng khiếp nhược, ở cõi người; sám hối những tội báo bị cô đọc khốn khổ, lưu lạc, bôn ba quên mất xứ sở, ở cõi người: Sám hối những tội lỗi bị tù ngục giam cầm, bị nhốt đứng trong ngục tối, bị đánh đập tra khảo ở cõi người; sám hối những tội báo bị miệng lưỡi công tư thêu dệt, vu hoạ ở cõi người; sám hối những tội báo bị bệnh tật liên miên liệt giường liêt chiếu không đứng dậy được ở cõi người; sám hối những tội báo bị các chứng ôn dịch về mùa Đông mùa Hạ, hay bị độc lệ thương hàn ở cõi người; sám hối những tội lỗi bị trúng gió độc, bị thũng, trướng, bị kết, ở cõi người; sám hối những tội lỗi bị các ác thần tìm dịp tiện tác hoạ ở cõi người; sám hối những tội báo bị các thứ ác điểu bay đến kêu lên trăm điều quái gở, gặp quỉ phi thi làm các yêu dị, ở cõi người; sám hối những tội báo bị các loài cầm thú dữ sài lang, hổ báo làm hại, ở cõi người, sám hối những tội báo tự lao mình xuống hố sâu hầm lửa, nhảy xuống sông hay gieo mình từ trên cao xuống, ở cõi người; sám hối những tội báo không có uy đức tiếng tăm,ở cõi người; sám hối những tội báo thiếu thốn, tiêu dùng ăn mặc không được vừa lòng, ở cõi người; sám hối những tội báo ra vào, đi lại hay làm việc gì cũng khó khăn hoặc bị người khác ngăn trở, ở cõi người. Những tai hoạ bất trắc, những bệnh truyền nhiễm, những ách nạn suy não trong đời hiện tại, vị lai, trong cõi nhân thiên, nhiều không thể kể xiết như thế, ngày nay chúng con chí thành hướng về mười phương chư phật, Tôn Pháp, Thánh chúng cầu xin sám hối, nguyện đều tiêu diệt.
Trước đã sám hối tất cả phiền não chướng và nghiệp chướng của sáu căn, ba nghiệp, tất cả quả báo chướng trong sáu nẻo bốn loài, nay chúng con xin theo thứ lớp phát nguyện hồi hướng.
Chúng con………………………………..nguyện đem công đức sám hối ba món chướng kia, hồi hướng cho tất cả chúng sinh cũng đều cùng nhau sám hối; nguyện cùng tất cả chúng sinh trong đời hiện tại thân tâm được yên vui, ba tai tám nạn các việc chẳng lành đều tiêu trừ hết thảy, sự ăn mặc được dư dật đầy đủ, chính tín Tam Bảo; xả báo thân này, vãng sinh về cõi Cực Lạc, gần gũi đức Phật Di Đà, được thụ kí để qua đời sau được gặp phật Di Lặc, nghe hiểu chính Pháp, theo đó tu hành. Nguyện đời đời kiếp kiếp bất cứ sinh ở chỗ nào, thường gặp các vị quốc vương, trùng hưng Tam Bảo, không bị sinh vào nhà ngoại đạo tà kiến. Chúng con lại nguyện đời đời kiếp kiếp bất cứ ở nơi nào, cũng do hoa sen hoá sinh, thuộc giòng giống cao quí, được yên ổn, vui sướng, món ăn, thức mặc tự nhiên có sẵn. Chúng con lại nguyên đời đời kiếp kiếp bất cứ ở chỗ nào, cũng có sẵn lòng nhân từ trung hiếu, đem tâm bình đẳng cứu giúp chúng sinh, không khởi niệm nghịch hại. Lại nguyện đời đời kiếp kiếp bất cứ sinh ở chỗ nào, cũng thường được chư Phật hộ niệm, thường hàng phục được ma oán và các thứ ngoại đạo, được ở chung một chỗ với các bậc bồ tát, một lòng theo đạo Bồ Đề không khi nào đứt đoạn. Lại nguyện đời đời kiếp kiếp bất cứ sinh ở chỗ nào cũng nêu tỏ Phật Pháp, tu theo giáo lý Đại Thừa, phân thân vô số để cứu độ chúng sinh, thẳng tiến đến đạo tràng (thành phật) không khi nào thoái chuyển.
Chư Phật Bồ Tát đã phát lời thề nguyện tu hành phúc trí, và hồi hướng, chúng con cũng xin phát nguyện tu tập phúc chí và hồi hướng như vậy.
Cõi hư không có thể cùng tận, cõi chúng sinh có thể cùng tận, nghiệp báo của chúng sinh có thể hết, phiền não của chúng sinh có thể diệt, nhưng sự tu hành hồi hướng của chúng con không bao giờ cùng tận.
Phát nguyện và hồi hướng xong, xin hết lòng kính lễ xong, xin hết lòng kính lễ Thường Trụ Tam Bảo.
Hết quyển hạ
Tội do tâm sinh do tâm diệt
Tâm đã diệt tội cũng không còn
Tội hết tâm không hai vẳng lặng
Như thế mới là chân sám hối
Nam mô Cầu Sám Hối Bồ Tát Ma Ha Tát.
Phần hồi hướng
Tâm kinh bát nhã ba la mật đa
Khi ngài Quán Tự tại Bồ Tát, thực hành sâu xa pháp Bát Nhã Ba La Mật Đa. Ngài soi thấy năm uẩn đều không, qua hết thảy khổ ách.
Này ông Xá Lỵ Tử! Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc, sắc tức là không, không tức là sắc; Thụ, Tưởng, Hành, Thức cũng đều như thế.
Này ông Xá Lỵ Tử! Tướng không của mọi pháp, không sinh, không diệt, không nhơ, không sạch, không thêm, không bớt, cho nên trong Chân Không, không có sắc, không có Thụ, Tưởng, Hành, Thức; không có Mắt, Tai, Mũi, Lưỡi, Thân, ý; không có Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc, Pháp; không có nhỡn. Giới cho đến không có ý thức giới; không có Vô minh cũng không có cái hết Vô minh; cho đến già, chết, cũng không có cái hết già, chết; không có Khổ, Tập, Diệt, Đạo; không có trí tuệ, cũng không có chứng đắc, vì không có chỗ chứng đắc.
Bồ Tát Y theo Bát Nhã Ba La Mật Đa, nên tâm không ngăn ngại, vì không ngăn ngại nên không sợ hãi xa hẳn mộng tưởng điên đảo, đạt tới cứu kính niết bàn. Chư Phật trong ba đời cũng y vào Bát Nhã Ba La Mật Đa, được đạo quả Vô Thượng Chính, Đẳng Chính Giác.
Cho nên biết Bát Nhã Ba La Mật Đa là đại thần chú, là đại minh trú, là vô thượng trú. Là vô đẳng trú, trừ được hết thảy khổ, chân trực không hư.
Vì vậy nói ra bài chú Bát Nhã Ba La Mật Đa. Liền nói bài chú ấy rằng:” Yết Đế Yết Đế, Ba La Yết Đế, Ba La Tăng Yết Đế, Bồ Đề Tát Bà Ha.
Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa”.(3 lượt)
Văn tụng kinh sám hối hồi hướng
Đệ tử chúng con…………………..vì sức nghiệp ma, tâm thần rối loạn, căn tính mê mờ, bỗng nhiên lại nghĩ, thay đổi lung tung, giáo dở chất chồng, xem văn mờ ý, nhầm chữ sai câu. Trái với chính âm trong đục,nệ vào tà kiến giãi bày, hoặc vì việc đoạt mất trí tâm, chẳng để vào kinh, đương khi tụng niệm dậy bỏ dở câu cách quãng. Ngồi lâu trễ nải, nhân việc giận hờn, chốn nghiêm tịnh để vướng bụi nhơ, nơi kính cẩn hoặc làm cẩu thả. Thân, khẩu mặc dùng nhếch nhác, xiêm, y lễ mạo lôi thôi, cung chẳng như nghi, ngồi không đúng chỗ. Mở quấn rối ren, rớt rơi dơ nát hết thảy chẳng chuyên chẳng thành, thật là dáng thẹn đáng sợ.
Kính xin chư Phật Bồ Tát, trong cõi pháp giới hư không, hết thảy thần thánh hiện thần, thiên long, hộ, pháp, từ bi thương xót, sám rửa lỗi lầm, khiến cho công đức tụng kinh đều được chu viên thành tựu.
Đệ tử chúng con nguyện tâm hồi hướng, còn e hoặc khi dịch thuật lỗi nhầm, hoặc lúc giải chua thiếu sót, truyền thụ sai thù, âm thích lẫn lộn. Những lỗi so sánh đổi thay, những lầm cắt, in, viết, chép, dù thầy dù thợ, đều xin sám hối. Nhờ sức thần của chư Phật, khiến cho tội lỗi tiêu tan. Thường quay xe pháp, cứu vớt hàm linh. nguyện đem công đức trì chú tụng kinh, hồi hướng về hộ pháp, long thiên thánh chúng, thần núi, sông linh thiêng trong tam giới, vị chủ tể thủ hộ chốn già lam, cầu mong được hưởng phúc thiện bình an, trang nghiêm đạo quả vô thượng Bồ Đề, nguyện cho khắp cả pháp giới chúng sinh, cùng được vào bể Như Lai pháp tính…
(đảo mõ rồi tụng tiếp)
Kinh lăng nghiêm
(Chương Niệm Phật của Bồ Tát Thế Chí)
Đức Đại Thế Chí Pháp Vương Tử, có năm mươi hai vị Bồ Tát đồng hàng với Ngài, liền từ toà ngồi đứng dậy, lễ dưới chân Phật, mà bạch Phật rằng: con nhớ về hằng Hà sa kiếp xưa kia, có đức Phật ra đời, hiệu là Vô Lượng Quang, trong một kiếp mười hai đức Như Lai nối nhau ra đời. Đức Phật sau cùng hiệu Siêu Nhật Nguyệt Quang, đức Phật kia dạy con Pháp niệm phật Tam Muội.
Ví như con người: Một người chuyên nhớ, một người chuyên quên. hai người như thế, dù có gặp nhau, cũng như không gặp, hoặc có thấy nhau cũng như không thấy. Hai người nhớ nhau, thời hai người nhớ in sâu, cứ như thế mãi, từ kiếp này qua kiếp khác, như bóng in hình, chẳng xa trái nhau. Mười phương Như Lai thương nhớ chúng sinh, như mẹ nhớ con, nếu con trốn tránh mẹ nhớ ích gì? Con dù nhớ mẹ, như khi mẹ nhớ con, mẹ con trải qua nhiều kiếp, chẳng xa trái nhau.
Nếu tâm chúng sinh, nhớ Phật niệm Phật, đời này đời sau, quyết định thấy Phật, cách Phật chẳng xa, chẳng phải nhờ phép phương tiện, mà tự mở ngộ tâm mình. Ví như người nhiễm mùi hương, mình có hơi hương, như thế gọi là Hương Quang Trang nghiêm. Nhân địa còn xưa, nhờ tâm niệm Phật, được vào pháp nhẫn Vô sinh. Nay ở cõi này, tiếp người niệm Phật về nơi cõi tịnh.
Đức Phật hỏi Pháp Viên Thông, con không hề lựa chọn, mà chỉ thu nhiếp sáu căn, nối liền tịnh niệm, được vào nơi chí định, đó là bậc nhất:
Thân Phật Di Đà vàng rực rỡ!
Tướng đẹp sáng ngời không gì sánh
Hào quang toả khắp năm Tu Di
Mắt biếc trong hơn bốn biển lớn
Quang trung hoá phật nhiều vô số
Hoá chúng Bồ tát cùng vô biên
Bốn mươi tám nguyện độ chúng sinh
Chín phẩm đều nên ngôi Chính Giác
Nam mô Tây Phương Cực Lạc
Thế giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật.(3 lượt)
Nam Mô A Di đà Phật (1 tràng hay ba tràng tuỳ ý)
Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát (10 lượt)
Nam Mô Đại Thế Chí Bồ Tát (10 lượt)
Nam Mô Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát (10 lượt)
(Toàn thể đều đứng dậy lễ, chủ sám đọc)
Nam mô Tận hư Không, biến Pháp giới, thập phương tam thế, nhất thiết thường trụ Tam Bảo.(3 lễ)
Nam Mô Sa Bà Giáo Chủ Bản Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.(1 lễ)
Nam mô Phạm Võng Giáo Chủ Lưu Xá Na Phật.(1 lễ)
Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Giáo Chủ A Di Đà Phật.(1 lễ)
Nhất tâm đỉnh lễ, Quán thế Âm Bồ Tát, biến pháp giới chư đại Bồ Tát(1 lễ)
Nhất tâm đỉnh lễ, Đại Thế Chí Bồ Tát, biến pháp giới Chư Đại Bồ Tát. (1 lễ)
Nhất tâm đỉnh lễ, Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, biến pháp giới chư đại Bồ Tát.(1 lễ)
Nhất tâm đỉnh lễ, Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát, biến pháp giới chư Đại Bồ Tát.(1 lễ)
Nhất tâm đỉnh lễ, thanh tịnh Đại Hải chúng, biến Pháp giới Chư chư Hiền Thánh Tăng.(1 lễ)
Nhất tâm đỉnh lễ, Lịch Đại Tổ Sư Bồ Tát.(1 lễ)
Nhất tâm đỉnh lễ, Hộ Pháp Chư Thiên Bồ Tát.(1 lễ)
Con nay khắp vì bốn ân, ba cõi pháp giới chúng sinh, nguyện xin ba chướng tiêu trừ, chí thành phát nguyện(1 lễ)
(Toàn thể đều quì chắp tay, chủ sám đọc)
Nguyện đem công đức trì chú, sám hối, tụng kinh, hồi hướng, chân linh…
Nguyện chư hương linh……………….
Nhất chân tỏ ngộ
Lục dục tam không
Cõi nhân gian sinh tử xa lìa
Nơi cực lạc hoá sinh tự tại
Ao thất bảo thảnh thơi tắm mát
Đài cửu liên nhẹ gót tiêu diêu
Quán âm, thế chí, kết đồng hàng
Bồ Tát Thánh Tăng làm bạn lữ.
Thần thức hằng vui nơi cõi tịnh
Nghiệp duyên trần không vướng mảy may
Trên đài sen chín phẩm nở hoa
Chư Phật phóng hào quang thụ ký.
Nam Mô Tây Phương cực lạc thế giới, đại từ đại bi, tiếp dẫn đạo sư A Di Đà Phật.(3 lượt)
Nam Mô Liên Trì Hải hội, Quán Thế Âm, Đại Thế Chí, Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát.(1 lượt)
(Mọi người đều đọc phát nguyện)
Phát nguyện và hồi hướng
Chúng sinh bao nhiêu xin độ hết.
Phiền não bao nhiêu xin dứt hết.
Pháp môn bao nhiêu xin học hết.
Phật đạo cao siêu nguyện viên thành.
Công đức tụng kinh rất tuyệt vời!
Bao nhiêu thắng phục xin hồi hướng
Nguyện khắp chúng sinh trong bể khổ
Chóng được sinh về nước Cực Lạc
Nguyện tiêu ba chướng trừ phiền não
Nguyện được trí tuệ thật sáng ngời
Nguyện bao tội chướng được tiêu trừ
Đời đời thường làm Bồ Tát đạo.
Nguyện sanh Tây phương cõi Phật đà
Chín phẩm đài sen là cha mẹ
Hoa nở thấy Phật ngộ Vô Sinh
Bất thoái Bồ Tát làm bạn hữu
Nguyện đem công đức này
Hướng về khắp tất cả.
Chúng con và chúng sinh
Đều trọn thành Phật đạo.
Tự qui y Phật, xin nguyện chúng sinh, thể theo đạo lớn, phát tâm vô thượng.
Tự qui y Pháp, xin nguyện chúng sinh, thấu rõ kinh tạng, trí tuệ như biển.
Tự qui Tăng, xin nguyện chúng sinh, thống lý đại chúng, hết thảy không ngại.
Hoà nam thánh chúng
Năm phép tà: Tức năm điều luật ác nghiệp của Đề Bà Đạt Ma.
[2] Năm thứ cay nồng: Hành, hẹ, tỏi, nén, hung, cừ (hay kiệu).
[3] Sáu món niệm xứ: 1. Niệm Phật; 2. Niệm Pháp; 3. Niệm tăng; 4. Niệm giới; 5. Niệm thí; 6. Niệm thiên.
Thô: Có thể thấy được.
Tế: Không thể thấy được.
[6] Thích Đề Huờn Nhơn: Tên một vì trời ở trên chót núi Tu Di
Năm tướng suy: 1. Hoa trên đầu héo; 2. Y phục nhơ nhớp; 3. Đổ mồ hôi nách; 4. Thân hình hôi thối; 5. Không ưa ngồi trên toà. Mỗi khi năm tướng ấy hiện là điềm báo trước vì trời ấy khi mang chung sẽ bị đoạ lạc.
[8] Ngũ thiên sứ giả: Vì người ta gọi Vua Diêm Vương là Ngũ diện Thiên tử nên sứ của ngài gọi là Ngũ thiên sứ giả
Phi ly: Một loài chồn có cánh.
Tám nạn: 1. Địa ngục; 2. Ngã quỉ; 3. Súc sinh; 4. Trường thọ thiên; 5. Bắc câu lô châu; 6. Đui, điếc, ngọng, liệt; 7. Thế trí biện thông; 8. Sanh trước Phật hay sanh sau phật: Sở dĩ gọi tám nạn là vì ở tám chỗ này dù cảm thọ quả báo cổ vui có khác, nhưng đều không được thấy Phật không được nghe chính pháp.
[11]
Ba ác; 1. Địa ngục; 2. Ngã quỉ; 3. Súc sinh.
TỪ BI THỦY SÁM PHÁP – PHẦN 1
Trước thuật: Ngộ Đạt Thiền Sư
Dịch Giả: Thích Huyền Dung
Phật Lịch: 2541-1997
Pháp từ bi thủy sám
(Quyển Hạ)
Tất cả chư Phật vì thương xót chúng sinh, mới nói phép đạo tràng Thuỷ Sám. Ngày nay chúng con xin đem cả thân mệnh, hướng về hết thảy chư Phật
Nam mô Tỳ Lô Giá Na Phật,
Nam mô Bản Sư Thích ca Mâu Ni Phật
Nam Mô A Di Đà Phật
Nam mô Di Lặc Phật.
Nam mô Long Chủng Thượng Tôn Vương Phật.
Nam mô giác Hoa Định Tự Tại Vương Phật.
Nam mô Ca Sa Tràng Phật
Nam mô Sư Tử Hống Phật
Nam mô Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát.
Nam mô Phổ Hiền Bồ Tát.
Nam mô Đại Thế Chí Bồ Tát.
Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát.
Nam mô Đại Trang Nghiêm Bồ Tát.
Nam mô Quán Tự Tại Bồ Tát.
Đảnh lễ chư phật rồi thứ lại sám hối.
Trên kia đã sám hối ba nghiệp của thân, bốn nghiệp của miệng. Bây giờ chúng con xin sám hối tất cả nghiệp chướng đối với Phật, Pháp, Tăng.
Trong kinh Phật dạy: “Thân người khó được, Phật pháp khó nghe, chúng tăng khó gặp, tín tâm khó sinh, sáu căn khó đủ, bạn tốt khó gặp”. Ngày nay chúng ta nhờ kiếp trước đã gây nhiều căn lành, nên mới được làm thân người, sáu căn đầy đủ, lại gặp bạn lành, được nghe chính pháp. Nếu trong lúc này không hết lòng tinh tiến tu hành, ắt sau này sẽ bị chìm đắm trong muôn ngàn khổ đau không biết ngày nào ra khỏi bởi thế hôm nay, chí thành càu xin sám hối.
Chúng con…………………. từ vô thỉ đến nay thường bị vô minh che tâm tính, phiền não chướng ý thức, thấy hình tượng Phật không hết lòng cung kính, khinh miệt chúng tăng, tàn hại bạn tốt, phá tháp huỷ chùa, thiêu đốt kinh tượng làm hại kinh Phật; hoặc mình ở nhà đẹp để tượng Phật, Bồ Tát ở chỗ thấp hèn, bẩn thỉu, khói hun, nắng táp, gió thổi mưa chang, bụi đất dính đầy, chim chuột đục khoét; hoặc thờ chung trong phòng ngủ không từng kính lễ, hoặc ở trần trước tượng phật, không sửa y phục trang nghiêm, chỉnh tề; hoặc che đậy đèn đuốc, đóng kín cửa chùa, che lấp ánh quang minh chỗ Phật. Những tội như thế, ngày nay chúng con đều xin chí thành sám hối.
Lại từ vô thỉ đến nay, đối với pháp Phật, lấy tay bẩn cầm các quyển kinh, hoặc đang khi đọc tụng, xem nói lời tục tĩu, phi pháp; hoặc để kinh trên đầu giường ngồi đúng không cung kính; hoặc để trong rương tráp, sâu mọt ăn nát; hoặc quấn tròn làm cho sổ rớt, mất nát, thứ tự lộn lẫn, bộ loại; hoặc lôi kéo vướng đứt làm rách giấy vướng chữ, tự mình không tu tập, không chịu lưu truyền. Những tội như thế ngày nay chúng con đều xin chí thành sám hối.
Lại nằm dài nghe kinh, nằm ngửa tụng đọc, hoặc nói cười lớn tiếng, làm rộn người khác nghe pháp; hoặc giải sai lời phật dạy, nói khác Thánh ý, không phải chính pháp nói là chính pháp, chính là chính pháp, nói không phải chính pháp; chẳng phạm nói phạm, nói phạm chẳng phạm, tội nhẹ nói nặng, tội nặng nói nhẹ, hoặc sao chép kinh sách đoạn trứơc để đoạn sau, đoạn sau đem để đoạn trước, hoặc đoạn trước đoạn sau đem để ở giữa hoặc đoạn giữa đem để ra trước sau; hoặc thêu dệt lời văn trong kinh Phật, để làm sách riêng của mình; hoặc vì danh dự lợi dưỡng, cung kính mà nói Pháp; không lòng vị pháp, chỉ vì muốn tìm lỗi của pháp sư mà bàn luận nghĩa lý; không vì tăng tiến sự hiểu biết để cầu pháp xuất thế, mà chỉ đàn hạch một cách vô lý, hoặc khinh mạn lời phật, tôn trọng tà giáo, chê bai Đại Thừa, khen ngợi Thanh Văn. Những tội như thế vô lượng vô biên, ngày nay chúng con đều xin sám hối.
Lại từ vô thỉ đến nay, đối với chúng Tăng gây ra các nghiệp chướng, như giết bậc a la hán, phá sự hoà hợp của chúng tăng, hại những người phát tâm Vô thượng Bồ đề, dứt tuyệt giống Phật, làm cho Thánh đạo không lưu hành được hoặc lột xẻ người tu hành, tra khảo bậc Sa Môn, đánh đập đầy đoạ, dùng lời thô bỉ mắng nhiếc,hoặc phá giới hạnh thanh tịnh làm mất hết uy nghi; hoặc khuyên người khác bỏ đạo bát chính; hoặc giữ và thực hành theo năm phép tà[1]; Hoặc giả dạng nhà sư trộm của thường trụ tiêu sài việc riêng. Những tội như thế, ngày nay chúng con đều xin sám hối.
Hoặc để mình trần, hay mặc y phục mỏng manh đường đột đến trước kinh phật; hoặc mang giầy bẩn thỉu đi vào điện Phật, dẫm nên thác phật; hoặc mang guốc vào chùa, hoăc đàm nhổ nước miếng trong nhà thiền, làm dơ nhớp chỗ phật và chúng Tăng ở; hoặc đánh xe cưỡi ngựa xông pha trong chùa chiền tịnh xá. Phàm đối với Tam Bảo mà khởi ra những tội lỗi như thế, thật vô lượng, vô biên ngày nay chúng con chí thành hướng về mười phương chư Phật, Tôn Pháp, Thánh chúng cầu xin sám hối.
Nguyện nhờ công đức sám hối ấy, chúng con đời đời kiếp kiếp thường gặp được Tam Bảo, để tôn ngưỡng cung kính, không bao giờ chán nản, lại có gấm lụa tốt đẹp, anh lạc quí giá, trăm nghìn âm nhạc, các món danh hương, các thứ hoa quả tốt tươi có đủ những vật sở hữu trên đời để cúng dàng. Nếu có vị nào thành Phật chúng con nguyện đến trước khuyến thỉnh mở của cam lồ cứu độ chúng sinh. Nếu có vị Phật nào nhập niết Bàn, chúng con nguyện được cúng dàng một lần sau chót. Còn như trong hàng chúng tăng, chúng con nguyện tu sáu phép hoà kính, được sức tự tại, trùng hưng Tam Bảo trên hoằng dương Đạo Phật, dưới hoá độ chúng sinh.
Những tội hoặc nặng hoặc nhẹ, đối với tam bảo đã sám hối rồi, còn lại những tội lỗi khác chúng con xin theo thứ lớp sám hối hết thảy. Nhưng trong kinh nói: “Có hai mạng người được mạnh mẽ: một là tự mình không gây tội, hai là đã gây tội mà biết ăn năn sám hối”. lại có hai phương pháp trong sạch, có thể làm cho chúng sinh diệt trừ được các món chướng ngại, một là biết khổ luyện, tự mình không làm ác, hai là biết thẹn, nên không xúi người khác làm ác. Có hổ thẹn như thế mới gọi là người, nếu không biết hổ thẹn thì không khác cầm thú. Bởi vậy ngày nay chúng con chí thành qui y phật, xin đúng theo phép mà sám hối.
Lại từ vô thỉ đến nay, vì mê tín tà kiếm nên giết hại chúng sinh để cúng tấu quỉ thần, lị mị vọng lượng, cầu được sống lâu nhưng không bao giờ được hoặc nói dói thấy ma quỉ, rồi giả xưng là thần để gạt người. Những tội như thế ngày nay chúng con đều xin sám hối.
Lại từ vô thỉ đến nay, hoặc hành dộng láo sược, tự cao tự đại, hoặc ỷ dòng quí tộc khinh dẻ mọi người, cậy mình sang trọng khinh kẻ hèn hạ, hoặc ỷ sức mạnh ăn hiếp kẻ yếu, hoặc uống rượu rồi gây sự loạn đả không kể người thân sơ, say sưa xuất ngày không biết tôn ty, những tội ngư thế ngày nay chúng con xin sám hối.
Lại như tham ăn uống không tiếc độ, ăn gỏi thịt gỏi cá, hoặc ăn năm thứ cây nồng[2] mùi hôi bay nên xông uế các kinh tượng, xua đuổi những kẻ tu hành giữ giới thanh tịnh; buông lung tâm ý, xa lìa người lành gần gũi bạn ác. Những tội như thế ngày nay chúng con đều xin sám hối. Lại có tính cống cao, bầy điều giả dối, bắt người khác theo mình, càng bướng cố chấp cho mình là hay, ương ngạnh chống báng không biết nhân tình, cho mình là phải, người khác là quấy và hay hi vọng ở sự may rủi. Những tội như thế ngày nay chúng con xin sám hối.
Còn lâm đến chỗ tiền tài lại không nhường nhịn, không liêm sỉ, mua bán rượu thịt, lừa dối kẻ sống hoặc cho vay nặng lời, tính từng ngày từng giờ góp chứa một cách cay nghiệt, tham cầu không biết chán; hưởng thụ của dâng cúng không biết hổ thẹn; hoặc không biết giới đức mà lạm nhận của tín thí. Những tội như thế ngày nay chúng con đều xin sám hối.
Và đánh đập tôi tớ, sai khiến trẻ con làm việc nặng, không kể đến sự đói khát lạnh nóng của chúng; hoặc phá dỡ cầu cống ngăn trở sự đi lại, những tội như thế ngày nay chúng con đều sám hối.
Lại để mạc ý mình phóng túng, lung lăng tán loạn, chỉ để thì giờ đánh xu bồ, đánh cờ tướng, hoặc vây đoàn hợp lũ, uống ăn rượu thịt, chén tạc chén thù làm rối cho nhau; nói chuyện vu vơ, hay bàn luận chuyện thiên hạ, hết năm này qua năm khác để ngày giờ trôi qua không lợi ích gì; mỗi đêm ba thời không tụng kinh ngồi thiền, lười biếng, giải đãi cứ nằm dài, suốt ngày không để tâm quán sáu món niệm xứ[3] thấy người khác có việc hơn mình lại sinh ghen ghét ôm lòng hiểm độc, khởi đủ phiền não để cho gió lốc vật dục thổi vào củi lửa tội lỗi, cháy luôn không ngớt, thiêu mất những điều lành nhỏ của ba nghiệp. Khi những pháp lành đã hết thì hoá ra rất xiểm đề, đoạ vào địa ngục lớn, không có kì hạn ra được. Bởi thế ngày nay, chúng con cúi đầu hướng về mười phương tam bảo xin sám hối hết thảy.
Tất cả tội lỗi từ trước tới nay, hoặc nhẹ hoặc nặng hoặc thô[4] hoặc tế[5],hoặc tự mình làm, hoặc bảo người khác làm, hoặc thấy người khác làm vui mừng, hoặc dùng thế lực bắt buộc người khác làm, cả đến những tội khen người làm ác, ngày nay chúng con chí thành đều xin sám hối.
Nguyện nhờ công đức sám hối các tội ác ấy, chúng con đời đời kiếp kiếp được từ hoà, trung hiếu, khiêm nhường, nhẫn nhục, biết liêm sỉ, biết chào đón trước, sửa mình chính đáng, trong sạch nhân nghĩa, nhường nhịn, xa lìa bạn ác, thường gặp duyên lành, thâu nhiếp được sáu căn, giữ gìn được ba nghiệp, nhẫn lại được khổ nhọc, tâm không thoái lui, cứ lập chí tu hành đắc đạo, không phụ bạc chúng sinh.
Phát nguyện rồi đem hết thân mệnh kính lễ chư Phật
Trước đã sám hối những phiền não chướng, nghiệp chướng, ngay theo thứ lớp giãi bày những quả báo chướng còn lại, xin sám hối hết thảy.
Trong kinh nói: “Khi nghiệp báo đã đến, chẳng phải trong không trung, trong biển, trong hang núi, không có chỗ nào thoát khỏi được quả báo, chỉ có sức sám hối mới được diệt trừ”. Vì sao biết được? Vì như ông Thích Đề Hoàn Nhân[6] khi thấy năm tướng suy[7] hiện ra, trong lòng khiếp sợ chí thành qui y Tam Bảo, thì năm tướng xấu xa ấy liền tiêu diệt, lại còn thêm tuổi thọ. Những chuyện như thế trong kinh rất nhiều, không phải là một. Thế mới biết sự sám hối hay diệt trừ được tai hoạ.
Song kẻ phàm phu nếu không gặp bạn tốt dẫn đường, thời không có việc nào mà không làm, đến nỗi khi sắp chết, cảnh địa ngục gớm ghê hiện ra trước mắt, chính lúc ấy lại hối hận sợ hãi. Ôi! Ngày trước không tu điều lành để đến ngày cùng ăn năn sao kịp. Phước báo hay tai ương tự mình gieo trồng từ trước, nay cú thẳng lối mà vào địa ngục, một mình mình đi đến, để lăn vào vạc dầu sôi, thân tâm tan nát, tinh thần thống khổ. Tới lúc đó dầu muốn lạy hay sám hối một câu, cũng không dễ gì được nữa.
Vì thế tất cả mọi người chớ ỷ mình tuổi trẻ sức mạnh có tiền tài thế lực mà lười biếng giải đãi, tự ý buông lung. Một khi khổ chết đã đến thì không luận già, trẻ, nghèo, giàu, sang, hèn đều tiêu ma hết. Quỉ vô thường đến thình lình không cho ai biết trước. Mệnh người vô thường như giọt sương mai, một hơi thở ra tuy có đó, nhưng hơi hít vào không chắc gì còn được. Thế vì cớ chi mà không sám hối? Nếu sứ giả ngũ thiên[8] hay quỉ La sát thoạt nhiên đi đến, dầu tuổi trẻ sức mạnh đến đâu cũng không thể tránh. Lúc ấy dẫu có nhà đẹp, lầu cao vẫn không ích gì đến người, xe tốt ngựa hay không đem theo được, vợ con quyến thuộc cũng không còn là người thân, những đồ thất trân quí giá cũng chỉ để cho người khác hưởng. Lấy đó mà nói thì quả báo ở đời đều giả dối, không chắc thật. Còn như ở cõi trời tuy vui thật nhưng rốt cuộc cũng sẽ tan nát. Khi sự sống hết thì vẫn phải đoạ lạc trong tam đồ. Vì thế Phật bảo ông Tu Đạt Đa: “Thầy ngươi là Uất Đầu Lam Phất lợi căn sáng suốt, đã hàng phục được phiền não, đến cõi trời phi phi tưởng rồi, mà khi mệnh chung còn phải đoạ vào đường súc sinh, làm con phi li[9] huống chi người khác”. Thế mới biết hễ chưa lên tới Quả Thánh, thì còn bị luôn chuyển qua các đường ác. Nếu không cẩn thận, một mai thì lình thân chịu chỗ đó, thật đáng hối hận. Xem như ngày nay bi tội phải đến cửa công, đó là khổ nhỏ mà tâm tình đã sợ hãi, quyến thuộc đã khủng khiếp cầu cứu trăm bề. Đối với nỗi khổ trong địa ngục còn gấp trăm vạn ngàn lần hơn, không thể so sánh được.
Chúng con cùng nhau trải vô số kiếp, tội lỗi chồng chất như núi Tu Di, nghe như vậy làm sao cứ an nhiên không sợ hãi, không kinh khủng, để về sau mắc phải những nỗi khổ ấy, đáng đau đớn biết bao! Vì thế ngày nay, chúng con chí thành cầu xin sám hối.
Lại từ vô thỉ đến nay, chúng con…………………….có nhiều báo chướng nhưng nặng nhất chỉ có địa ngục a tỳ. Như trong kinh đã nói rõ, nay xin nói sơ về hình tướng của địa ngục a tỳ.
Chung quanh ngục có bảy lớp thành sắt, có bẩy lần lưới sắt giăng kín ở trên, phía dưới có bẩy tầng dao sắc, rậm như rừng và vô số ngọn lửa dữ luôn luôn thiêu đốt. Bề dài bề rộng của ngục này tính có tám muôn bốn ngàn do tuần tội nhân đầy trong ấy, nhưng vì nhân duyên của tội nghiệp nên không làm trở ngại, lửa phía trên hắt xuống, lửa ở dướt bốc lên, lan khắp bốn phương Đông, Tây, Nam, Bắc. Tội khổ trong ngục ấy như cá bi chiên trong chảo, dầu mỡ đều chảy ra. ở bốn cửa thành có bốn con chó đồng, thân hình dài rộng đến bốn nghìn do tuần, nanh dài, móng nhọn, mắt sáng như điện chớp. Lại có vô số giống chim mỏ sắt vỗ cánh bay lên mổ khoét thịt người có tội. Quỉ sứ đầu trâu hình như La Sát, có chín đuôi như đinh ba bằng sắt, lại có chín đầu, trên đầu có mười tám sừng, mỗi sừng có sáu mươi bốn mắt, từ mỗi con mắt tiết ra sức nóng như thiêu đốt tội nhân. Mỗi khi nóng giận chúng gào thét tiếng vang như sấm. Lại có vô số bánh xe dao, từ trên không trung bay xuống, xoáy vào đỉnh đầu tội nhân, rồi xoáy suốt xuống chân mà ra ngoài. Tội nhân đau đớn thấu xương tuỷ, nhức nhối tận tim gan, cứ như thế trải qua không biết bao nhiêu năm. Cầu sống không được, cầu chết không được. Những tội báo như thế ngày nay chúng con hổ thẹn cúi đầu cầu xin sám hối.
Kế đến chúng con xin sám hối những tội báo: Đầu, thân rơi rã trong địa ngục đao sơn, kiếm thụ bị thiêu nướng trong địa ngục vạc dầu, lò than: sám hối những tội lỗi bị thiêu đốt trong địa ngục, giường sắt, cột đồng; sám hối những tội báo bị đè nghiến mổ xẻ trong địa ngục xe dao, xe lửa, sám hối những tội báo trong địa ngục kéo lưỡi để trâu cày; sám hối những tội báo làm cho ngũ tạng cháy tiêu trong địa ngục, nuốt hòn sắt nóng, uống nước đồng sôi, sám hối những tội báo sương thịt nát tan trong địa ngục, cột sắt, sám hối trong tội báo da, thịt, sương, tuỷ rơi lìa từng mảnh trong địa ngục cuốn dây sắt nóng, sám hối những tội lỗi bị bứt dứt ngạt thở trong địa ngục sông tro phẩn, sám hối những tội da dẻ lạnh, cóng nứt, da trong địa ngục nước mặn đóng giá băng, sám hối những tội báo tàn hại lẫn nhau trong địa ngục chó sói, chim sắt, chó săn, sám hối những tội báo đâm chém cấu xé nhau trong địa ngục đao binh móng vuốt, sám hối những tội báo bị rang nướng trong địa ngục hầm lửa, sám hối những tội báo bị hình hài tan nát trong địa ngục hai tảng đá ép lại, sám hối những tội báo bị dóc lột trong địa ngục bôn bề núi đá xô ép lại, sám hối những tội lỗi bị chém sẻ trong địa ngục, núi thịt u ám, sám hối những tội lỗi bị chặt đứt trong địa ngục cưa xẻ đóng đinh; sám hối những tội lỗi bị mổ cắt trong địa ngục gậy sắt treo ngược, sám hối những tội báo phiền oan trong địa ngục đốt nóng kêu gào, sám hối những tội báo chịu cảnh đêm dài mù mịt không bóng mặt trời mặt trăng và sao trong khoảng lớn nhỏ núi Thiết Vi, sám hối những tội lỗi trong địa ngục a ba ba, địa ngục a bà bà, địa ngục a tra tra, địa ngục A la la. Trong tất cả các địa ngục lạnh nóng như thế có phụ thêm tám muôn bốn ngàn địa ngục cách tử.
Những tội khổ trong đó bị chiên nấu đau đớn, bị lột da dóc thịt, chẻ xương đập tuỷ, rút ruột, bức phổi, nhiều nỗi khổ khác không thể nghe không thể nói. Nam mô Phật! Những người bây giờ đang bị đoạ vào các chốn ấy hoặc là cha mẹ hay họ hàng của chúng con từ vô thỉ kiếp chúng con cùng họ, sau khi chết sẽ bị đoạ trong các địa ngục như thế.
Ngày nay chúng con rửa sạch lòng trần, cúi đầu hướng về mười phương Chư Phật, các bậc Đại Bồ Tát cầu xin sám hối, khiến cho tất cả tội báo kia đều tiêu diệt.
Nguyện nhờ công đức sám hối những tội báo trong địa ngục, chúng con phá được bức thành sắt chốn A tỳ làm thành cõi Tịnh Độ, không còn cái tên “ác đạo”, bao nhiêu thống khổ sạơ sệt trong các địa ngục đều chuyển thành những duyên vui sướng; núi dao rừng kiếm biến ra rừng báu; lò lửa vạc dầu hoá thành hoa sen; lính ngục đầu trâu chừa bỏ sự bạo ngược, khởi lòng Từ Bi không còn niệm ác. Và chúng sinh trong đường địa ngục thoát khỏi quả khổ, không gây thêm nhân ác khác, thụ hưởng sự yên vui như ở cõi Tam Thiền, đồng thời phát tâm cầu đạo vô thượng.
Sám hối và phát nguyện xong, xin hết lòng kính lễ Thường Trụ Tam Bảo.
Đảnh lễ chư Phật rồi, thứ lại sám hối.
Trước đã sám hối những tội báo trong địa ngục, nay xin sám hối những tội ác trong ba đường ác. Trong kinh Phật nói: “Con người vì nhiều ham muốn, nhiều tham cầu lợi dưỡng nên khổ não cũng nhiều”. Người biết đủ tuy nằm dưới đất mà vẫn lấy làm yên vui, người không biết đủ, dù ở thiên đường cũng không vừa ý. Song người đời thình lình có tai nạn nguy cấp, thì thường bỏ hết tài sản không kể nhiều ít. Thế mà không biết thân này khi lâm vào hố thẳm tam đồ, hễ một hơi thở không trở lại thì phải bị đoạ lạc. Thoảng như có người trí thức khuyên làm việc công đức để dự trữ pháp lành cho đời sau, thì lại cứ cố chấp keo bẩn không chịu làm theo lẽ phải. Những người như thế thật ngu hoặc biết bao! Vì sao? Trong kinh Phật nói:” Lúc sinh không đem lại một đồng nào, lúc chết cũng không cầm được một đồng nào đem đi”. Người đời phải khổ than góp chứa được tiền của, chỉ đèo thêm sự lo âu phiền muộn không ích gì cho mình, mà người khác hưởng hết. Không chút duyên lành, không một mảy công đức để nhờ cậy đến khi chết phải bị đoạ vào đường ác. Vì vậy ngày nay chúng con chí thành đem thân mệnh đem về ngôi Tam Bảo, cầu xin sám hối.
Kế đến chúng con xin sám hối những tội báo ngu tối trong loài súc sinh; sám hối những tội báo mang nặng kéo cày đền nợ cũ trong đường súc sinh; sám hối những tội báo không chân hai chân, bốn chân hay nhiều chân trong loài súc sinh; sám hối những tội báo trong lông, cánh, mai, vẩy, trong thân bị các giống trùng nhỏ cắn rỉa, ở các loài súc sinh có vô số tội báo như thế, ngày nay đều xin chí thành sám hối.
Chúng con lại xin sám hối những tội báo luôn luôn chịu sự đói khát, trải qua trăm ngàn vạn năm không nghe đến tên cơm nước trong loài ngã quỉ; sám hối những tội báo ăn uống máu mủ phẩn dơ trong loài ngã quỉ; sám hối những tội báo mỗi khi động thân thì tất cả chi tiết đều cháy trong loài ngã quỉ, sám hối những tội báo bụng lớn cổ nhỏ trong loài ngã quỉ. Trong loài ngã quỉ, có vô số tội báo như thế, ngày nay cúi đầu xin sám hối.
Chúng con lại xin sám hối những tội báo hay nịnh hót kiêu mạn trong loài tu la, quỉ thần; sám hối những tội báo gánh cát mang đá lấp sông trấn biển trong loài quỉ thần; sám hối những tội báo ăn uống máu thịt, chịu đủ mọi sự xấu xa trong loài quỉ thần La Sát, Cưu bàn trà. Trong loài quỉ thần có vô lượng vô biên tội báo như thế, ngày nay chúng con hướng về mười phương Chư Phật, đại địa Bồ Tát, cầu xin sám hối, khiến cho những tội báo ấy đều tiêu diệt.
Nguyện nhờ công đức sám hối những tội báo trong đường súc sinh, chúng con đời đời kiếp kiếp diệt hết tất cả ngu si, biết được nghiệp duyên của mình, trí tuệ sáng suốt, không làm thân trong các đường ác.
Nguyện nhờ công đức sám hối những tội báo trong đường ngã quỉ, chúng con đời đời kiếp kiếp lìa khổ xan lận, đói khát, thường được ăn những pháp vị cam lồ giải thoát.
Nguyện nhờ công đức sám hối những tội báo trong đường tu la quỉ thần, chúng con đời đời kiếp kiếp tính tình chất trực xa hẳn nhân tà mệnh, trừ các quả báo xấu xa, và làm được nhiều phúc lợi cho cả nhân thiên.
Chúng con…………………………nguyện từ nay trở đi cho đến đạo tràng, không còn chịu những tội báo trong bốn đường ác, chỉ trừ lòng đại bi cứu độ chúng sinh, lấy sức thê nguyện ở chung trong ấy, không khi nào chán nản.
Chúng con………………………….đã sám hối những tội báo trong ba đường ác, nay theo thứ lớp cầu xin sám hối những tội báo chốn nhân thiên.
Chúng con cùng nhau thọ bẩm thân Mệnh ở cõi Diêm phù này, tuy nói một trăm năm chớ có mấy ai sống trọn. Trong thời gian đó số người trẻ tuổi chết non không thể nào lường, những khổ não còn nung nấu bức bách thân hình, lo rầu sợ hãi không ngớt phút nào. Sở dĩ như thế, bởi căn lành rất ít nghiệp ác quá nhiều, đến nỗi trong đời hiện tại làm việc gì cũng không được vừa ý. Nên biết đó là dự báo của những nghiệp ác ở đời quá khứ còn lại. Bởi thế nên ngày nay, chúng con xin sám hối vô lượng dư báo ấy trong cõi nhân thiên từ vô thỉ cho đến thời hiện tại và vị lai; sám hối những tội báo tai ương túc trái, tàn tật trăm bệnh, sáu căn không đủ ở cõi người; sám hối những tội báo sinh vào nơi hoang dã xa cách mọi người, luôn luôn bị tà kiến, tám nạn[10], ba ác[11]; sám hối những tội báo bị nhiều bệnh hoạn, gầy còm, chết yểu, chết oan, ở cõi người; sám hối những tội báo bà con quyến thuộc không đoàn tụ, ở cõi người; sám hối những tội báo bị khổ vì bạn bè tan nát ân ái chia lìa, ở cõi người, sám hối những tội báo oán cừu gặp gỡ, ưu sầu khiếp sợ, ở cõi người; sám hối những tội báo bị nạn lửa, trôm cướp đao binh nguy hiểm, kinh khủng khiếp nhược, ở cõi người; sám hối những tội báo bị nạn nước lửa, trộm cướp đao binh nguy hiểm, kinh khủng khiếp nhược, ở cõi người; sám hối những tội báo bị cô đọc khốn khổ, lưu lạc, bôn ba quên mất xứ sở, ở cõi người: Sám hối những tội lỗi bị tù ngục giam cầm, bị nhốt đứng trong ngục tối, bị đánh đập tra khảo ở cõi người; sám hối những tội báo bị miệng lưỡi công tư thêu dệt, vu hoạ ở cõi người; sám hối những tội báo bị bệnh tật liên miên liệt giường liêt chiếu không đứng dậy được ở cõi người; sám hối những tội báo bị các chứng ôn dịch về mùa Đông mùa Hạ, hay bị độc lệ thương hàn ở cõi người; sám hối những tội lỗi bị trúng gió độc, bị thũng, trướng, bị kết, ở cõi người; sám hối những tội lỗi bị các ác thần tìm dịp tiện tác hoạ ở cõi người; sám hối những tội báo bị các thứ ác điểu bay đến kêu lên trăm điều quái gở, gặp quỉ phi thi làm các yêu dị, ở cõi người; sám hối những tội báo bị các loài cầm thú dữ sài lang, hổ báo làm hại, ở cõi người, sám hối những tội báo tự lao mình xuống hố sâu hầm lửa, nhảy xuống sông hay gieo mình từ trên cao xuống, ở cõi người; sám hối những tội báo không có uy đức tiếng tăm,ở cõi người; sám hối những tội báo thiếu thốn, tiêu dùng ăn mặc không được vừa lòng, ở cõi người; sám hối những tội báo ra vào, đi lại hay làm việc gì cũng khó khăn hoặc bị người khác ngăn trở, ở cõi người. Những tai hoạ bất trắc, những bệnh truyền nhiễm, những ách nạn suy não trong đời hiện tại, vị lai, trong cõi nhân thiên, nhiều không thể kể xiết như thế, ngày nay chúng con chí thành hướng về mười phương chư phật, Tôn Pháp, Thánh chúng cầu xin sám hối, nguyện đều tiêu diệt.
Trước đã sám hối tất cả phiền não chướng và nghiệp chướng của sáu căn, ba nghiệp, tất cả quả báo chướng trong sáu nẻo bốn loài, nay chúng con xin theo thứ lớp phát nguyện hồi hướng.
Chúng con………………………………..nguyện đem công đức sám hối ba món chướng kia, hồi hướng cho tất cả chúng sinh cũng đều cùng nhau sám hối; nguyện cùng tất cả chúng sinh trong đời hiện tại thân tâm được yên vui, ba tai tám nạn các việc chẳng lành đều tiêu trừ hết thảy, sự ăn mặc được dư dật đầy đủ, chính tín Tam Bảo; xả báo thân này, vãng sinh về cõi Cực Lạc, gần gũi đức Phật Di Đà, được thụ kí để qua đời sau được gặp phật Di Lặc, nghe hiểu chính Pháp, theo đó tu hành. Nguyện đời đời kiếp kiếp bất cứ sinh ở chỗ nào, thường gặp các vị quốc vương, trùng hưng Tam Bảo, không bị sinh vào nhà ngoại đạo tà kiến. Chúng con lại nguyện đời đời kiếp kiếp bất cứ ở nơi nào, cũng do hoa sen hoá sinh, thuộc giòng giống cao quí, được yên ổn, vui sướng, món ăn, thức mặc tự nhiên có sẵn. Chúng con lại nguyên đời đời kiếp kiếp bất cứ ở chỗ nào, cũng có sẵn lòng nhân từ trung hiếu, đem tâm bình đẳng cứu giúp chúng sinh, không khởi niệm nghịch hại. Lại nguyện đời đời kiếp kiếp bất cứ sinh ở chỗ nào, cũng thường được chư Phật hộ niệm, thường hàng phục được ma oán và các thứ ngoại đạo, được ở chung một chỗ với các bậc bồ tát, một lòng theo đạo Bồ Đề không khi nào đứt đoạn. Lại nguyện đời đời kiếp kiếp bất cứ sinh ở chỗ nào cũng nêu tỏ Phật Pháp, tu theo giáo lý Đại Thừa, phân thân vô số để cứu độ chúng sinh, thẳng tiến đến đạo tràng (thành phật) không khi nào thoái chuyển.
Chư Phật Bồ Tát đã phát lời thề nguyện tu hành phúc trí, và hồi hướng, chúng con cũng xin phát nguyện tu tập phúc chí và hồi hướng như vậy.
Cõi hư không có thể cùng tận, cõi chúng sinh có thể cùng tận, nghiệp báo của chúng sinh có thể hết, phiền não của chúng sinh có thể diệt, nhưng sự tu hành hồi hướng của chúng con không bao giờ cùng tận.
Phát nguyện và hồi hướng xong, xin hết lòng kính lễ xong, xin hết lòng kính lễ Thường Trụ Tam Bảo.
Hết quyển hạ
Tội do tâm sinh do tâm diệt
Tâm đã diệt tội cũng không còn
Tội hết tâm không hai vẳng lặng
Như thế mới là chân sám hối
Nam mô Cầu Sám Hối Bồ Tát Ma Ha Tát.
Phần hồi hướng
Tâm kinh bát nhã ba la mật đa
Khi ngài Quán Tự tại Bồ Tát, thực hành sâu xa pháp Bát Nhã Ba La Mật Đa. Ngài soi thấy năm uẩn đều không, qua hết thảy khổ ách.
Này ông Xá Lỵ Tử! Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc, sắc tức là không, không tức là sắc; Thụ, Tưởng, Hành, Thức cũng đều như thế.
Này ông Xá Lỵ Tử! Tướng không của mọi pháp, không sinh, không diệt, không nhơ, không sạch, không thêm, không bớt, cho nên trong Chân Không, không có sắc, không có Thụ, Tưởng, Hành, Thức; không có Mắt, Tai, Mũi, Lưỡi, Thân, ý; không có Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc, Pháp; không có nhỡn. Giới cho đến không có ý thức giới; không có Vô minh cũng không có cái hết Vô minh; cho đến già, chết, cũng không có cái hết già, chết; không có Khổ, Tập, Diệt, Đạo; không có trí tuệ, cũng không có chứng đắc, vì không có chỗ chứng đắc.
Bồ Tát Y theo Bát Nhã Ba La Mật Đa, nên tâm không ngăn ngại, vì không ngăn ngại nên không sợ hãi xa hẳn mộng tưởng điên đảo, đạt tới cứu kính niết bàn. Chư Phật trong ba đời cũng y vào Bát Nhã Ba La Mật Đa, được đạo quả Vô Thượng Chính, Đẳng Chính Giác.
Cho nên biết Bát Nhã Ba La Mật Đa là đại thần chú, là đại minh trú, là vô thượng trú. Là vô đẳng trú, trừ được hết thảy khổ, chân trực không hư.
Vì vậy nói ra bài chú Bát Nhã Ba La Mật Đa. Liền nói bài chú ấy rằng:” Yết Đế Yết Đế, Ba La Yết Đế, Ba La Tăng Yết Đế, Bồ Đề Tát Bà Ha.
Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa”.(3 lượt)
Văn tụng kinh sám hối hồi hướng
Đệ tử chúng con…………………..vì sức nghiệp ma, tâm thần rối loạn, căn tính mê mờ, bỗng nhiên lại nghĩ, thay đổi lung tung, giáo dở chất chồng, xem văn mờ ý, nhầm chữ sai câu. Trái với chính âm trong đục,nệ vào tà kiến giãi bày, hoặc vì việc đoạt mất trí tâm, chẳng để vào kinh, đương khi tụng niệm dậy bỏ dở câu cách quãng. Ngồi lâu trễ nải, nhân việc giận hờn, chốn nghiêm tịnh để vướng bụi nhơ, nơi kính cẩn hoặc làm cẩu thả. Thân, khẩu mặc dùng nhếch nhác, xiêm, y lễ mạo lôi thôi, cung chẳng như nghi, ngồi không đúng chỗ. Mở quấn rối ren, rớt rơi dơ nát hết thảy chẳng chuyên chẳng thành, thật là dáng thẹn đáng sợ.
Kính xin chư Phật Bồ Tát, trong cõi pháp giới hư không, hết thảy thần thánh hiện thần, thiên long, hộ, pháp, từ bi thương xót, sám rửa lỗi lầm, khiến cho công đức tụng kinh đều được chu viên thành tựu.
Đệ tử chúng con nguyện tâm hồi hướng, còn e hoặc khi dịch thuật lỗi nhầm, hoặc lúc giải chua thiếu sót, truyền thụ sai thù, âm thích lẫn lộn. Những lỗi so sánh đổi thay, những lầm cắt, in, viết, chép, dù thầy dù thợ, đều xin sám hối. Nhờ sức thần của chư Phật, khiến cho tội lỗi tiêu tan. Thường quay xe pháp, cứu vớt hàm linh. nguyện đem công đức trì chú tụng kinh, hồi hướng về hộ pháp, long thiên thánh chúng, thần núi, sông linh thiêng trong tam giới, vị chủ tể thủ hộ chốn già lam, cầu mong được hưởng phúc thiện bình an, trang nghiêm đạo quả vô thượng Bồ Đề, nguyện cho khắp cả pháp giới chúng sinh, cùng được vào bể Như Lai pháp tính…
(đảo mõ rồi tụng tiếp)
Kinh lăng nghiêm
(Chương Niệm Phật của Bồ Tát Thế Chí)
Đức Đại Thế Chí Pháp Vương Tử, có năm mươi hai vị Bồ Tát đồng hàng với Ngài, liền từ toà ngồi đứng dậy, lễ dưới chân Phật, mà bạch Phật rằng: con nhớ về hằng Hà sa kiếp xưa kia, có đức Phật ra đời, hiệu là Vô Lượng Quang, trong một kiếp mười hai đức Như Lai nối nhau ra đời. Đức Phật sau cùng hiệu Siêu Nhật Nguyệt Quang, đức Phật kia dạy con Pháp niệm phật Tam Muội.
Ví như con người: Một người chuyên nhớ, một người chuyên quên. hai người như thế, dù có gặp nhau, cũng như không gặp, hoặc có thấy nhau cũng như không thấy. Hai người nhớ nhau, thời hai người nhớ in sâu, cứ như thế mãi, từ kiếp này qua kiếp khác, như bóng in hình, chẳng xa trái nhau. Mười phương Như Lai thương nhớ chúng sinh, như mẹ nhớ con, nếu con trốn tránh mẹ nhớ ích gì? Con dù nhớ mẹ, như khi mẹ nhớ con, mẹ con trải qua nhiều kiếp, chẳng xa trái nhau.
Nếu tâm chúng sinh, nhớ Phật niệm Phật, đời này đời sau, quyết định thấy Phật, cách Phật chẳng xa, chẳng phải nhờ phép phương tiện, mà tự mở ngộ tâm mình. Ví như người nhiễm mùi hương, mình có hơi hương, như thế gọi là Hương Quang Trang nghiêm. Nhân địa còn xưa, nhờ tâm niệm Phật, được vào pháp nhẫn Vô sinh. Nay ở cõi này, tiếp người niệm Phật về nơi cõi tịnh.
Đức Phật hỏi Pháp Viên Thông, con không hề lựa chọn, mà chỉ thu nhiếp sáu căn, nối liền tịnh niệm, được vào nơi chí định, đó là bậc nhất:
Thân Phật Di Đà vàng rực rỡ!
Tướng đẹp sáng ngời không gì sánh
Hào quang toả khắp năm Tu Di
Mắt biếc trong hơn bốn biển lớn
Quang trung hoá phật nhiều vô số
Hoá chúng Bồ tát cùng vô biên
Bốn mươi tám nguyện độ chúng sinh
Chín phẩm đều nên ngôi Chính Giác
Nam mô Tây Phương Cực Lạc
Thế giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật.(3 lượt)
Nam Mô A Di đà Phật (1 tràng hay ba tràng tuỳ ý)
Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát (10 lượt)
Nam Mô Đại Thế Chí Bồ Tát (10 lượt)
Nam Mô Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát (10 lượt)
(Toàn thể đều đứng dậy lễ, chủ sám đọc)
Nam mô Tận hư Không, biến Pháp giới, thập phương tam thế, nhất thiết thường trụ Tam Bảo.(3 lễ)
Nam Mô Sa Bà Giáo Chủ Bản Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.(1 lễ)
Nam mô Phạm Võng Giáo Chủ Lưu Xá Na Phật.(1 lễ)
Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Giáo Chủ A Di Đà Phật.(1 lễ)
Nhất tâm đỉnh lễ, Quán thế Âm Bồ Tát, biến pháp giới chư đại Bồ Tát(1 lễ)
Nhất tâm đỉnh lễ, Đại Thế Chí Bồ Tát, biến pháp giới Chư Đại Bồ Tát. (1 lễ)
Nhất tâm đỉnh lễ, Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, biến pháp giới chư đại Bồ Tát.(1 lễ)
Nhất tâm đỉnh lễ, Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát, biến pháp giới chư Đại Bồ Tát.(1 lễ)
Nhất tâm đỉnh lễ, thanh tịnh Đại Hải chúng, biến Pháp giới Chư chư Hiền Thánh Tăng.(1 lễ)
Nhất tâm đỉnh lễ, Lịch Đại Tổ Sư Bồ Tát.(1 lễ)
Nhất tâm đỉnh lễ, Hộ Pháp Chư Thiên Bồ Tát.(1 lễ)
Con nay khắp vì bốn ân, ba cõi pháp giới chúng sinh, nguyện xin ba chướng tiêu trừ, chí thành phát nguyện(1 lễ)
(Toàn thể đều quì chắp tay, chủ sám đọc)
Nguyện đem công đức trì chú, sám hối, tụng kinh, hồi hướng, chân linh…
Nguyện chư hương linh……………….
Nhất chân tỏ ngộ
Lục dục tam không
Cõi nhân gian sinh tử xa lìa
Nơi cực lạc hoá sinh tự tại
Ao thất bảo thảnh thơi tắm mát
Đài cửu liên nhẹ gót tiêu diêu
Quán âm, thế chí, kết đồng hàng
Bồ Tát Thánh Tăng làm bạn lữ.
Thần thức hằng vui nơi cõi tịnh
Nghiệp duyên trần không vướng mảy may
Trên đài sen chín phẩm nở hoa
Chư Phật phóng hào quang thụ ký.
Nam Mô Tây Phương cực lạc thế giới, đại từ đại bi, tiếp dẫn đạo sư A Di Đà Phật.(3 lượt)
Nam Mô Liên Trì Hải hội, Quán Thế Âm, Đại Thế Chí, Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát.(1 lượt)
(Mọi người đều đọc phát nguyện)
Phát nguyện và hồi hướng
Chúng sinh bao nhiêu xin độ hết.
Phiền não bao nhiêu xin dứt hết.
Pháp môn bao nhiêu xin học hết.
Phật đạo cao siêu nguyện viên thành.
Công đức tụng kinh rất tuyệt vời!
Bao nhiêu thắng phục xin hồi hướng
Nguyện khắp chúng sinh trong bể khổ
Chóng được sinh về nước Cực Lạc
Nguyện tiêu ba chướng trừ phiền não
Nguyện được trí tuệ thật sáng ngời
Nguyện bao tội chướng được tiêu trừ
Đời đời thường làm Bồ Tát đạo.
Nguyện sanh Tây phương cõi Phật đà
Chín phẩm đài sen là cha mẹ
Hoa nở thấy Phật ngộ Vô Sinh
Bất thoái Bồ Tát làm bạn hữu
Nguyện đem công đức này
Hướng về khắp tất cả.
Chúng con và chúng sinh
Đều trọn thành Phật đạo.
Tự qui y Phật, xin nguyện chúng sinh, thể theo đạo lớn, phát tâm vô thượng.
Tự qui y Pháp, xin nguyện chúng sinh, thấu rõ kinh tạng, trí tuệ như biển.
Tự qui Tăng, xin nguyện chúng sinh, thống lý đại chúng, hết thảy không ngại.
Hoà nam thánh chúng
[1]
Năm phép tà: Tức năm điều luật ác nghiệp của Đề Bà Đạt Ma.
[2] Năm thứ cay nồng: Hành, hẹ, tỏi, nén, hung, cừ (hay kiệu).
[3] Sáu món niệm xứ: 1. Niệm Phật; 2. Niệm Pháp; 3. Niệm tăng; 4. Niệm giới; 5. Niệm thí; 6. Niệm thiên.
[4]
Thô: Có thể thấy được.
[5]
Tế: Không thể thấy được.
[6] Thích Đề Huờn Nhơn: Tên một vì trời ở trên chót núi Tu Di
[7]
Năm tướng suy: 1. Hoa trên đầu héo; 2. Y phục nhơ nhớp; 3. Đổ mồ hôi nách; 4. Thân hình hôi thối; 5. Không ưa ngồi trên toà. Mỗi khi năm tướng ấy hiện là điềm báo trước vì trời ấy khi mang chung sẽ bị đoạ lạc.
[8] Ngũ thiên sứ giả: Vì người ta gọi Vua Diêm Vương là Ngũ diện Thiên tử nên sứ của ngài gọi là Ngũ thiên sứ giả
[9]
Phi ly: Một loài chồn có cánh.
[10]
Tám nạn: 1. Địa ngục; 2. Ngã quỉ; 3. Súc sinh; 4. Trường thọ thiên; 5. Bắc câu lô châu; 6. Đui, điếc, ngọng, liệt; 7. Thế trí biện thông; 8. Sanh trước Phật hay sanh sau phật: Sở dĩ gọi tám nạn là vì ở tám chỗ này dù cảm thọ quả báo cổ vui có khác, nhưng đều không được thấy Phật không được nghe chính pháp.
[11]
Ba ác; 1. Địa ngục; 2. Ngã quỉ; 3. Súc sinh.
“Tội từ tâm khởi cũng từ tâm diệt
Tội diệt tâm không cả hai đều hết”
“Nguyện nghiệp chướng Báo chướng,
Phiền não chướng, ba chướng tiêu trừ.
Nguyện Tân duyên,Cựu duyên,
Oan trái duyên, mọi duyên giải thoát”.
Duyên khởi
Thiết nghĩ ngoài những kinh, luật, luận của thánh giáo đã phiên dịch, nhiều sách vở của hiền nhân chế tác về sau đều do nơi sự cảm ứng mà làm ra cả. Nếu riêng từng phẩm loại mà nói thì không dễ gì kể ra cho hết được. Ngay như bản văn này mà gọi là Thuỷ Sám, tôi xin nói rõ đến căn do.
Thuở về chiều vua Đường Ý Tôn có một vị quốc sư hiệu là Ngô Đạt, tên là Tri Huyền, lúc chưa hiển đạt, ngài thường gặp gỡ một nhà sư ở đất Kinh Sư trong một ngôi chùa nọ. Nhà sư ấy bị mắc bệnh ca ma la (bệnh cùi) ai cũng gớm, chỉ có ngài Tri Huyền là thường gần gũi hỏi han, không hề nhàm chán. Nhân khi chia tay, nhà sư vì quá cảm khích phong thái của ngài Tri Huyền mới dặn rằng:
– Sau này ông có nạn chi nên qua núi Cửu Lũng tại Rành Châu đất Tây Thục tìm tôi và nhớ trên núi ấy có hai cây tùng làm dấu chỗ tôi trú ngụ.
Sau đó ngài Ngộ Đạt quốc sư đến ở chùa Ấn Quốc thì đạo đức của ngài càng vang khắp. Vua ý Tôn thân hành đến pháp tịch nghe ngài giảng đạo. Nhân đó vua mới ân từ rất hậu cho ngài cái pháp tọa bằng gỗ trầm hương và từ đó trên đầu gối của ngài bỗng nhiên mọc mụn ghẻ tựa như mặt người, đau nhức khôn siết! Ngài cho mời tất cả các bậc danh y, nhưng không ai chữa được. Nhân ngài nhớ lời dặn trước bèn đi vào núi mà tìm.
Trên đường đi, trời đã mờ tối, trong khoảng âm u mây bay khói toả mịt mù, ngài nhìn xem bốn phía, bỗng thấy dạng hai cây tùng mới tin rằng lời ước hẹn xưa không sai. Ngài liền đến ngay chỗ đó, quả nhiên thấy lầu vàng điện ngọc lộng lẫy nguy nga, ánh quang minh chói rọi khắp nơi. Trước cửa nhà sư đang đứng chờ đón ngài một cách thân mật.
Nhân ở lại đêm, ngài Ngộ Đạt mới tỏ hết tâm đau khổ của mình, nhà sư ấy nói:
– Không hề gì đâu, dưới núi này có một cái suối, sáng ngày rửa cái mụn ấy khoẻ ngay.
Mờ sáng hôm sau một chú tiểu đồng dẫn ngài ra ngoài suối. Ngài vừa bụm nước lên rửa thì mụn ghẻ kêu lên:
– Đừng rửa vội. Ông học nhiều biết rộng đã khảo cứu các sách cổ kim mà có từng đọc đến chuyện Viên Áng giết Tiều Thố vậy? Thố bị chém ở chợ phía đông oan ức biết chừng nào. Đời đời tôi tìm cách báo thù ông, song đã mười kiếp ông làm bậc cao tăng, giới luật tinh nghiêm, nên tôi chưa tiện bề báo oán được. Nay vì ông được nhà vua quá ưa chuộng nên khởi tâm danh lợi làm tổn giới đức, tôi mới báo thù được ông. Nay nhờ ngài Ca Nặc Ca tôn giả lấy nước pháp tam muội rửa oán cho tôi rồi , từ nay trở đi tôi không còn báo oán cho ông nữa.
Ngài Ngộ Đạt nghe qua hoảng sợ liền vội vàng bụm nước dội rửa mụn ghẻ làm nhức nhối tận xương tuỷ, chết giấc hồi lâu mới tỉnh. Khi tỉnh lại thì không thấy mụn ghẻ ấy nữa. Nhân đó ngài mới biết thánh hiền ẩn tích kẻ phàm tình không thể lường được. Ngài muốn trở lên lạy tạ vị sư, nhưng ngó ngoảnh lại thì ngôi bảo điện kia đã biến mất tự bao giờ. Vì thế ngài bèn lập một cái thảo am ngay chỗ ấy và sau trở thành một ngôi chùa. Đến năm Chí Đạo triều nhà Tống mới sắc hiệu là “Chi Đức Thiền Tự”. Có một vị cao tăng làm bài kí sự ghi chép việc này rõ ràng.
Khi đó ngài Ngộ Đạt nghĩ đến nỗi oan trái đã bao đời nếu không gặp được thánh nhân thì do đâu khỏi được? Vì cảm niệm cái ơn tế độ lạ lùng ấy, ngài mới thuật ra pháp sám này để mai chiều lễ tụng, sau đó truyền bá khắp thiên hạ.
Ba quyển sám đây tức là bài văn của ngài làm ra lúc đó vậy.
Nghĩa chính của bài văn này là lấy nước Tam Muội rửa sạch nghiệp oan khiên nên mới đặt là Thuỷ Sám. Lại ngài Ngộ Đạt cũng vì cảm điềm dị ứng của đức Ca Nặc Ca nên dùng tên ấy mà đặt cho bộ Sám văn này để đền đáp cái thâm ân kia.
Nay tôi kể rõ sự thật và nếu công của tiên đức để cho những người lật bộ sám văn này, hoặc lễ, hoặc tụng, đều biết được sự tích của tiền hiền vì lẽ nhân quả tuy nhiều kiếp cũng không sai chạy.
(Bài này tôi cố tìm tác giả nhưng không thấy)
Phần nghi lễ
(Mọi người đều chỉnh tề đứng trước Tam Bảo mật niệm rằng)
Tịnh pháp giới chân ngôn: Án La Sa Ha (3 lượt)
(Chủ sám đọc)
Hết thẩy cung kính: Dốc lòng kính lễ mười phương pháp giới thường trụ Tam Bảo(3 lượt)
(Mọi người quỳ nguyện hương)
Nguyện đem lòng thành kính.
Gửi theo đám mây hương.
Phảng phất khắp mười phương.
Cúng dường ngôi Tam Bảo.
Thề trọn đời giữ đạo,
Theo tự tính làm lành,
Cúng pháp giới chúng sinh.
Cầu Phật từ gia hộ;
Tâm Bồ đề kiên cố.
Xa bể khổ sông mê.
Chóng quay về bờ giác.
Cúng dường đoạn: Dốc lòng kính lễ mười phương pháp giới thường trụ Tam Bảo.(1 lượt)
(Mọi người đều đứng dậy chắp tay tán phật)
Đấng pháp vương vô thượng,
Ba cõi chẳng ai bằng,
Thầy dậy khắp trời người,
Cha lành chung bốn loài,
Quy y trọn một niệm.
Dứt sạch nghiệp ba kỳ,
Xưng dương cùng tán thán.
Ức kiếp không cùng tận.
Án phạ phật la vật.(3 lượt)
Chí tâm đảnh lễ, Tận hư không, biến pháp giới, quá, hiện, vị lai, chư phật, tôn pháp, Hiền Thánh Tăng thường trụ tam Bảo.(1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ, Sa bà giáo chủ Bản Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.(1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ, Tây phương Cực Lạc giáo chủ A Di Đà Phật. (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ, Đương lai giáo chủ Di lặc Tôn Phật. (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ, Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát. (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ, Đại Hạnh Phổ Hiền Vương Bồ Tát. (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ, Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát. (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ, Đại Lực Đại Thế Chí Bồ Tát (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ, Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ, Ca Nhã Ca Bồ Tát.(1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ, Ngộ Đạt Quốc Sư Bồ Tát.(1 lễ)
Con nay xin bốn ân ba cõi, pháp giới chúng sinh, nguyện xin ba chướng tiêu trừ chí thành Sám hối…(1 lễ)
(cùng quỳ để sám hối)
Chúng con xin chí thành sám hối:
Xưa kia gây nên bao ác nghiệp.
Đều vì ba nghiệp Tham, sân, si.
Bởi thân, miệng, ý phát sinh ra.
Hết thảy nay con xin sám hối.
Sám hối đoạn: Dốc lòng kính lễ Tam Bảo thường ở khắp mười phương.(1 lễ)
(Đồng quỳ: Chủ sám thỉnh) (1 lễ)
Kính nghe:
Lòng Từ Mẫn hằng vì muôn vật, tâm Bi Nguyện khéo độ quần sinh. Hai chữ Từ Bi làm tiêu hết muôn nghìn tội lỗi. Một lời niệm Phật cũng diệt trừ trăm vạn oan khiên.
Nguyên nhân làm ra văn Thuỷ Sám này, là do Viên Áng, Tiều Thố hai người, vì kết thành mối oan khiên, nên nghiệp quả kia khó tránh.
Dưới bóng song tùng ngài Ca Nhã hiện Phạm thể đoan nghiêm, trong ao Tam Muội ngài Ngộ Đạt thoát oan sang (mụn hình mặt người mọc nơi đầu gối.), khổ nạn. Nhân Từ tâm hướng về thiện niệm, vì thế nên đất hiện suối thơm. Văn Thuỷ Sám nay mở đầu, là nguyên do từ đó.
Sở sĩ, một giọt nước thấm nhuần lại là phương thuốc hay thoát khổ, một lời kêu Sám hối thực là đạo tối yếu trừ khiên; khả dĩ tiêu tan nhiều đời tội nặng; khả dĩ cứu vớt cực khổ nơi ba đường; khả dĩ gỡ mối oan khiên trong nhiều kiếp. Công đức sám ma ấy, khen ngợi mãi khôn cùng.
Hôm nay đàn tràng nghiêm tịnh, tiệc pháp kính bày. Quy mệnh mười phương Điều Ngự, Kính lễ Phổ Hiền nguyện vương, vận tưởng hương hoa, một lòng dâng cúng.
Muốn cho căn lành trong sạch, trước nên nghiệp chướng, tiêu trừ. Cúi mong đức đại Từ Bi trông xuống rủ lòng soi xét.
Nam Mô Cầu Sám Hối Bồ Tát Ma Ha Tát (3 lượt)
(Chủ sám và mọi người ngồi, cùng tụng theo nhịp mõ)
Thiên thủ thiên nhỡn vô ngại Đại bi tâm đà la ni
TỪ BI THỦY SÁM PHÁP – PHẦN 2
Nam mô hát ra đát na đá ra giạ gia. Nam mô a rị gia. Bà lô yết đế thước bát ra gia. Bồ đề tát đỏa bà gia. Ma ha tát đỏa bà gia. Ma ha ca rô ni ca gia. Án. Tát bàn ra phạt duệ. Số đát na đát tả. Nam mô tất cát lật đỏa y mông a rị gia. Bà lô cát đế thất phật ra lăng đà bà. Nam mô na ra cẩn trì. Hê rị ma ha bàn đa sa mế. Tát bà a tha đậu du bằng. A thệ dựng. Tát bà tát đá na ma bà già. Ma phạt đặc đậu. Đát điệt tha. Án. A bà lô hê, lô ca đế. Ca ra đế. Di hê rị. Ma ha bồ đề tát đỏa. Tát bà tát bà. Ma ra ma ra, ma hê ma hê rị đà dựng. Câu lô câu lô yết mông. Độ lô độ lô phạt xà gia đế, ma ha phạt xà gia đế. Đà ra đà ra. Địa rị ni. Thất phật ra gia. Dá ra giá ra. Mạ mạ. Phạt ma ra. Mục đế lệ. Y hê y hê, thất na thất na. A ra sâm phật ra xá lị, phạt sa phạt sâm. Phật ra xá gia. Hô lô hô lô ma ra, hô lô hô lô hê rị. Sa ra sa ra. Tất rị tất rị. Tô rô tô rô. Bồ đề giạ bồ đề giạ. Bồ đà giạ bồ đà giạ. Di đế lị giạ. Na ra cẩn trì. Địa lị sắc ni na. Ba giạ ma na, sa bà ha. Tất đà giạ, sa bà ha. Ma ha tất đà giạ, sa bà ha. Tất đà du nghệ. Thất bàn ra giạ, sa bà ha. Na ra cẩn trì, sa bà ha. Ma ra na ra, sa bà ha. Tất ra tăng a mục khư gia, sa bà ha. Sa bà ma ha a tất đà giạ, sa bà ha. Giả cát ra a tất đà giạ, sa bà ha. Ba đà ma yết tất đà giạ, sa bà ha. Na ra cẩn trì bàn dà ra gia, sa bà ha. Ma bà lị thắng yết ra giạ, sa bà ha. Nam mô hát ra đát na đá ra giạ gia. Nam mô a lị gia, Bà lô cát đế, Thước bàn ra giạ, sa bà ha.
Án tất điện đô, Mạn đa ra, Bạt đà gia, sa bà ha.
Nam mô ly cấu địa bồ tát ma ha tát
(3 lượt)
Mỗi Đức Phật ra đời mở tám vạn bốn nghìn cửa Pháp. Một mặt trăng cõi thiên phá tối tăm quần sinh nơi đại địa. Mở rộng đạo mầu nhất thừa, sám diệt tội khiên hết thảy
Kính xin Bảy Phật Thế Tôn, mười phương Từ Phụ, hiện tướng hào quang sáng suốt, giám soi ý khẩn chân thành.
Phụng vì cầu sám cho tên là…………………….Vận Sức Từ Bi Đạo Tràng Thuỷ Sám. Đây là quyển thượng, duyên khởi vào đàn, hành nhân chúng con, quỳ gối chắp tay, kính lễ mười phương Tam Bảo, quy y hết thảy Thánh Tăng, dĩa tỏ cầu thượng, mở bày sám hối.
Trộm nghĩ: Chúng con tên là…………………….Nhất tính trái ngang chìm đắm hương về trong bốn thú, Nhất Chân mờ mịt loanh quanh ở mãi trong sáu đường. Nghiệp Thân, Miệng, ý buông lung, vì Tham, Sân, Si phóng túng. Làm càn làm bậy tạo ra nghiệp chướng vô biên, theo ác theo tà gây lấy lỗi lầm nhiều thứ.
Nay nhờ đức Như Lai mở bày cửa Pháp phương tiện, Khiến cho lũ chúng con phát khởi tam thành sám hối. Mong sạch tội cấu nghìn đời, trừ hết oan khiên nhiều kiếp. Con nguyện được như vậy, xin Phật rủ lòng thương; Ngửa mong đức Đại Từ Bi, vì con mà ngầm giúp.
(đại chúng ngồi tụng)
Lư hương vừa đốt,
Cõi pháp thơm lây
Chư Phật bốn biển đều xa hay
Thấu tâm thành này
Chư Phật hiện thân ngay.
Nam mô Hương Vân Cái Bồ Tát Ma Ha Tát.(3 lượt)
Chân ngôn tịnh tam nghiệp: án sa phạ bà phạ chuật đà xa phạ đạt ma sa phạ bà phạ chuật độ hám.(3 lượt)
Chân ngôn phả cúng dàng: án nga nga nẵng tam bà phạ phiệt nhiệt la hộc.
(Lời Phát nguyện)
Kính lễ Đức Thế Tôn
Quy mệnh mười phương chư phật
Con nay phát nguỵên lớn
Trì tụng hành sám văn
Trên đền bốn trọng ân[1]
Dưới cứu khổ muôn loài
Nếu có ai thấy nghe Đều phát tâm Bồ đề
Tụ tập các công đức
thực hành hạnh lợi tha
khi nào hết báo thân này
Đều vãng sinh cực lạc.
Kệ khai kinh:
Chính pháp sâu xa rất nhiệm mầu!
Trăm nghìn ức kiếp cũng khó gặp,
Con nay thấy nghe xin thụ trì,
Nguyện hiểu nghĩa chân của Như Lai.
Nam mô Bản Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.(3 lượt)
Khải vận đạo tràng Sám Pháp, một lòng quy mệnh chư Phật trong ba đời.
Nam mô Quá khứ tỳ bà Thi Phật[2], (1 lạy)
Nam mô thi khí Phật[3], (1 lạy)
Nam mô tỳ xá phù Phật[4], (1 lạy)
Nam mô Câu Lưu Tôn Phật.[5], (1 lạy)
Nam mô Câu na Hàm Mâu Ni Phật[6], (1 lạy)
Nam mô Ca Diếp Phật[7], (1 lạy)
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật[8], (1 lạy)
Nam mô Đương lai Di lặc Tôn Phật[9], (1 lạy)
Pháp Từ Bi Thủy Sám
(Quyển thượng)
Tất cả chư Phật, vì thương xót chúng sinh, nói pháp lập đàn Thuỷ Sám. Chúng sinh vì nghiệp cấu nặng nề nên không một ai tránh khỏi tội lỗi. Những kẻ phàm phu bi màn vô minh che lấp, gần gũi bạn ác, phiền não loạn tâm, tính không hiểu biết, nên cứ buông lòng tự thị, không tin tưởng mười phương chư Phật, Không tin tôn Pháp, cùng các bậc thánh Tăng, bất hiếu cha mẹ, không kính nhường bà con. Tuổi trẻ phóng túng, kiêu căng ngạo mạn, đối với các vật quý báu, các thứ ca nhạc, các sắc đẹp trai gái thường sinh tâm tham luyến, ý khởi phiền não, lân la với người hư, tập tành theo bạn ác, không biết chừa đổi. Hoặc giết hại các giống sinh linh, hoặc uống rượu mê man mất hết trí tuệ, rồi thường cùng với chúng sinh tạo nghiệp phá giới. Những tội ác ở hiện tại ngày nay chí thành xin sám hối hết thảy, còn các tội lỗi về sau không dám làm nữa.
Bởi thế hôm nay chúng con dốc lòng thành kính quy y hết thảy các Đức Phật, các vị Đại Bồ Tát, Bích Chi, La Hán, Phạm Vương Đế Thích, Thiên Long Bát Bộ và tất cả thánh chúng trong mười phương hư không thế giới cầu xin dủ lòng chứng giám.
Lễ Phật Và Bồ Tát
Đỉnh lễ các đức Phật rồi, thứ lại sám hối. Nhưng, muốn làm lễ sám trước phải kính lễ Tam Bảo, vì Tam bảo là bạn lành, là ruộng phúc của tất cả chúng sinh. Nếu qui hướng Tam Bảo thì diệt được vô lượng tội, thêm được vô lượng phúc, khiến người làm đạo thoát khổ sinh tử, được vui giải thoát. Vì vậy cho nên chúng con tên là…………………….
Quy y hết thảy chư Phật trong mười phương hư không thế giới (1 lạy)
Quy y hết thảy tôn Pháp trong mười phương hư không thế giới (1 lạy)
Quy y hết thảy Thánh Tăng trong mười phương hư không thế giới (1 lạy)
Sở dĩ ngày nay chúng con sám hối, chính vì từ vô thỉ nhẫn lại, còn ở địa vị phàm phu bất cứ sang hèn, tội lỗi không lường: hoặc do ba nghiệp gây nên tội lỗi, hoặc vì nội tâm vọng tưởng, hoặc vì ngoại cảnh mê hoặc sinh lòng nhiễm trước.
Như thế cho đến mười điều ác nghiệp, tám vạn bốn ngàn trần lao. Những tội lỗi ấy tuy nhiều vô lượng, nhưng không ngoài ba điều: phiền não, nghiệp chướng, quả báo. Ba ác pháp này là pháp chướng ngại thánh đạo, ngăn trở quả báo tốt đẹp nhân thiên. Thế nên kinh gọi là ba chướng, vì vậy Chư Phật, Bồ Tát dạy làm những pháp phương tiện sám hối trừ diệt. Ba chướng ấy diệt thì sáu căn[10], mười ác[11], cho đến tám vạn bốn ngàn trần lao[12] thảy đều thanh tịnh.