KINH VÔ LƯỢNG NGHĨA

Kinh Vô Lượng Nghĩa có thể tóm gọn trong một tôn chỉ cốt lõi: “Vạn pháp từ một gốc mà ra, bản thể vốn tĩnh lặng và không hình tướng.” Kinh dạy rằng tất cả nghĩa lý vô cùng tận đều sinh khởi từ một pháp duy nhất là Vô Tướng (Thực tướng của vạn vật). Người thấu triệt được điều này sẽ giữ được tâm bình thản, không còn bị lay động bởi các đối cực “có – không” hay “sinh – diệt”. Từ trạng thái tâm tĩnh lặng như nước đó, người tu hành có thể tùy duyên ứng biến, từ một đạo lý gốc rễ mà triển khai thành muôn vàn phương tiện thiện lành để giúp đời, cứu người mà không hề bị vướng mắc vào hình tướng hay danh lợi.

—— Trích đoạn KINH VÔ LƯỢNG NGHĨA

 

Giới thiệu chung

Được xem là phần mở đầu mang tính chất dẫn nhập và khai mở cho hệ tư tưởng Pháp Hoa, văn bản này đóng vai trò như chiếc chìa khóa quan trọng để thấu hiểu tinh thần đại đoàn kết và tính viên dung của Phật giáo Đại thừa. Tác phẩm truyền tải thông điệp triết học sâu sắc rằng từ một chân lý tuyệt đối duy nhất có thể khởi sinh ra vô vàn phương tiện thiện xảo, và ngược lại, mọi pháp môn tu học đa dạng cuối cùng đều quy về một bản thể chân như đồng nhất. Thông qua cuộc đối thoại sống động giữa Đức Phật và các vị đại Bồ Tát, văn bản làm sáng tỏ quá trình chuyển hóa nội tâm, từ việc nhận thức bản chất vô thường của vạn pháp đến việc phát khởi lòng đại bi cứu độ quần sanh. Tầm quan trọng của tác phẩm nằm ở chỗ nó phá vỡ những ranh giới giáo điều cứng nhắc, mở ra cái nhìn bao quát về thực tại và khuyến khích hành giả linh hoạt trong phương pháp tu tập. Trải qua dòng chảy lịch sử, những tư tưởng cốt lõi từ văn bản đã trở thành nền tảng vững chắc cho sự phát triển của nhiều tông phái lớn, góp phần làm phong phú thêm kho tàng triết học phương Đông và hướng dẫn vô số người tìm thấy sự bình an nội tại.

Mục lục

Phần mở đầu

KINH VÔ LƯỢNG NGHĨA

Tôi nghe như vầy:

Một thuở nọ, đức Phật ngự ở núi Kì-xà-quật[1], gần thành Vương-xá[2], cùng với sự hiện diện đông đủ của một vạn hai ngàn vị Tì-kheo lớn[3]; tám vạn vị Bồ-tát lớn[4]; tám bộ chúng[5] Trời, Rồng, Dạ-xoa, Càn-thát-bà, A-tu-la, Ca-lâu-la, Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-già; chư vị Tì-kheo, Tì-kheo-ni, Cận-sự-nam, và Cận-sự-nữ cũng đều tụ hội đầy đủ.

Các vị đại Chuyển-luân vương, tiểu Chuyển-luân vương, Kim-luân vương, Ngân-luân vương và các Luân vương khác;[6] các vị quốc vương, vương tử, đại thần, quốc dân, quốc sĩ, phu nhân, đại trưởng giả, cùng quyến thuộc của họ đông đến hàng trăm, ngàn, vạn người, cùng nhau đi đến nơi Phật ngự, đầu mặt lạy sát chân Phật, đi nhiễu quanh Phật hàng trăm ngàn vòng, đốt nhiều loại hương, rải nhiều loại hoa để cúng dường Phật, sau đó thì lui ngồi về một bên.

Các vị Bồ-tát trong pháp hội như Văn Thù Sư Lợi pháp vương tử [7], Đại Uy Đức Tạng pháp vương tử, Vô Ưu Tạng pháp vương tử, Đại Biện Tạng pháp vương tử, Bồ-tát Di Lặc, Bồ-tát Đạo Thủ, Bồ-tát Dược Vương, Bồ-tát Dược Thượng, Bồ-tát Hoa Tràng, Bồ-tát Hoa Quang Tràng, Bồ-tát Đà La Ni Tự Tại Vương, Bồ-tát Quán Thế Âm, Bồ-tát Đại Thế Chí, Bồ-tát Thường Tinh Tấn, Bồ-tát Bảo Ấn Thủ, Bồ-tát Bảo Tích, Bồ-tát Bảo Trượng, Bồ-tát Việt Tam Giới, Bồ-tát Tì Ma Bạt La, Bồ-tát Hương Tượng, Bồ-tát Đại Hương Tượng, Bồ-tát Sư Tử Hống Vương, Bồ-tát Sư Tử Du Hí Thế, Bồ-tát Sư Tử Phấn Tấn, Bồ-tát Sư Tử Tinh Tấn, Bồ-tát Dũng Nhuệ Lực, Bồ-tát Sư Tử Uy Mãnh Phục, Bồ-tát Trang Nghiêm, Bồ-tát Đại Trang Nghiêm, vân vân, các vị Bồ-tát lớn như thế, đông đến tám vạn, cũng đều vân tập đầy đủ.

Các vị Bồ-tát trên đây đều là các bậc Pháp-thân Đại-sĩ [8], đã thành tựu giới, định, tuệ, giải thoát, và giải thoát tri kiến[9]; tâm thường tĩnh lặng, an trụ nơi chánh định, an nhiên điềm đạm, dứt hết sợ hãi, không còn vọng động, không còn ham muốn; mọi thứ điên đảo, loạn tưởng không thể xâm nhập được. Các Ngài tâm tịch tĩnh lắng trong, chí trống rỗng huyền diệu, hằng giữ không vọng động trải hàng trăm ngàn ức kiếp. Vô lượng pháp môn đều hiện rõ trước mắt, mà với trí tuệ rộng lớn, các Ngài đều thông suốt tất cả, phân biệt rành rẽ, tánh tướng chân thật, không có tốt xấu, rõ ràng minh bạch. Các Ngài cũng biết rõ mọi căn tánh và ước muốn của chúng sinh, dùng biện tài[10] tổng trì[11] vô ngại, thỉnh Phật thuyết pháp, tùy thuận chúng sinh mà hóa độ, trước là làm cho thấm nhuần pháp nhũ để dập tắt dục trần, mở cửa niết bàn, quạt gió giải thoát để trừ sạch phiền não nóng bức ở thế gian, đạt được mọi điều tươi mát. Thứ đến là nói pháp sâu xa Mười hai nhân duyên, rửa sạch vô minh cho đến già bệnh chết, đốt cháy mãnh liệt mọi đau khổ từng tích tụ như ánh sáng mặt trời. Sau đó thì tưới nước pháp đại thừa vô thượng, thấm nhuần tất cả chúng sinh có thiện căn, gieo chủng tử lành vào khắp ruộng công đức, khiến cho tất cả đều phát sinh mầm mống bồ đề; lấy trí tuệ làm ánh sáng mặt trời mặt trăng, lấy phương tiện làm thời tiết, giúp chúng sinh khai thông và tăng trưởng sự nghiệp đại thừa, mau chứng quả Bồ-đề Vô-thượng, thường an trụ nơi cảnh giới an vui nhiệm mầu chân thật, dùng tâm đại bi vô lượng để cứu khổ chúng sinh.

Các vị đó đều là chân thiện tri thức. Các vị đó đều là ruộng phước tốt đẹp. Các vị đó đều là bậc thầy không cần cầu thỉnh. Các vị đó là nơi nương tựa chắc chắn, đầy an lành, vui vẻ, là nơi được cứu độ, hộ trì. Nơi nào cũng là bậc đạo sư của mọi người, là cặp mắt sáng cho người mù tối, là tai cho người điếc, là mũi cho người bị xẻo mất mũi, là lưỡi cho người câm ngọng; làm cho những người có các căn bị khuyết tật thì lành lặn đầy đủ, những người điên khùng hoảng loạn được có chánh niệm; làm thuyền trưởng và thủy thủ để chở mọi người qua sông sinh tử, đến bờ niết bàn; làm y sĩ, dược sĩ, chẩn đoán bệnh trạng, hiểu rõ dược tính, tùy bệnh cho thuốc, giúp cho mọi người bình phục an vui; làm bậc điều ngự không có các hành vi buông lung, giống như người điều khiển voi ngựa có thể điều phục những voi ngựa khó điều phục, như sư tử hùng mạnh có uy lực khuất phục các loài thú khác; đó là bậc không ai có thể phá hoại, là Bồ-tát du hí [12] với đầy đủ các ba-la-mật[13], ở nơi lãnh địa của Như Lai, tâm luôn kiên cố, không vọng động, an trú nơi nguyện lực, làm cho khắp cõi Phật đều thanh tịnh, chẳng bao lâu được chứng quả Giác ngộ cao tột. Các vị đại Bồ-tát đó đều có công đức không thể nghĩ bàn như thế.

Các vị Tì-kheo trong pháp hội như Đại-trí Xá Lợi Phất, Thần-thông Mục Kiền Liên, Tuệ-mạng Tu Bồ Đề, Đại Ca Chiên Diên, Phú Lâu Na Di Đa La Ni Tử, A Nhã Kiều Trần Như, Thiên-nhãn A Na Luật, Trì-luật Ưu Ba Li, Thị-giả A Nan, Phật tử La Vân[14], Ưu Ba Nan Đà, Li Bà Đa, Kiếp Tân Na, Bạc Câu La, A Châu Đà, Sa Già Đà, Đầu-đà Đại Ca Diếp, Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp, Già Da Ca Diếp, Na Đề Ca Diếp[15], vân vân cả thảy một vạn hai ngàn vị Tì-kheo như vậy, đều là các bậc A-la-hán đã dứt trừ hết phiền não, không còn bị lậu hoặc ràng buộc, được chân chánh giải thoát.

Bấy giờ ngài Bồ-tát lớn Đại Trang Nghiêm quan sát khắp đại chúng, thấy mọi người tâm ý đều đã an định, bèn cùng với tám vạn vị Bồ-tát lớn ở trong chúng hội, đều từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến trước Phật, đầu mặt đảnh lễ sát chân Phật, đi nhiễu hàng trăm ngàn vòng, đốt hương trời, rải hoa trời; lại có áo cõi trời, chuỗi anh lạc và các loại ngọc quí báu vô giá khác của cõi trời, từ trên hư không từ từ rơi xuống bốn phía như mây tụ để dâng cúng Phật; các thức ăn cõi trời trăm vị trân quí đựng trong bát trời, tràn đầy sung mãn, chỉ cần thấy sắc nghe mùi thì tự nhiên no đủ; cờ trời, phướn trời, lọng trời, nhạc khí vi diệu cõi trời đặt khắp các nơi, cùng hòa tấu để dâng cúng Phật. Tất cả các vị Bồ-tát lớn ấy cùng quì gối chắp tay trước Phật, một lòng đồng thanh nói bài kệ khen ngợi Phật rằng:

“Cao cả thay bậc Thánh Đại Ngộ!

Không dơ, không nhiễm, không đắm trước.

Đấng Điều Ngự của cả trời người,

Gió đạo, hương đức xông tỏa khắp.

Trí, tình bình lặng, ngưng suy lự,

Ý diệt, thức tiêu, tâm tịch tĩnh,

Dứt huyễn mộng, sạch hết vọng tưởng;

Không còn các đại, ấm, giới, nhập,[16]

Thân Phật chẳng có cũng chẳng không,

Chẳng nhân, chẳng duyên, chẳng tự tha,

Chẳng vuông, chẳng tròn, chẳng dài ngắn,

Chẳng lộ, chẳng ẩn, chẳng sinh diệt,

 

Chẳng tạo, chẳng khởi, chẳng tác vi,

Chẳng ngồi, chẳng nằm, chẳng đi đứng,

Chẳng động, chẳng chuyển, chẳng nhàn tịnh,

Chẳng tiến, chẳng lùi, chẳng an nguy,

Chẳng phải, chẳng quấy, chẳng được mất,

Chẳng kia, chẳng đây, chẳng đi lại,

Chẳng xanh, chẳng vàng, chẳng đỏ trắng,

Chẳng hồng, chẳng tím bao màu sắc;

Giới, định, tuệ, giải, tri kiến[17] sinh,

Ba minh[18], sáu thông[19], đạo phẩm[20] phát,

Từ bi, mười lực[21], vô úy[22] khởi,

Chúng sinh nương tựa sinh nghiệp lành.

Hiện thân trượng sáu màu vàng kim,

Nghiêm chỉnh phương phi chiếu sáng ngời,

 

Mặt đẹp trăng tròn sáng mặt trời,

Tóc xoắn thẩm xanh, đỉnh nhục kế,

Mắt sáng trong thấy suốt mọi chiều,

Lông mày biếc, miệng vuông, má đầy,

Môi lưỡi đỏ đẹp như trái đỏ,

Răng bốn mươi chiếc trắng thanh khiết,

Trán rộng mũi thẳng mặt sáng rỡ,

Ngực hiện chữ “Vạn” (卍)[23], ức sư tử,

Tay chân mềm mại đủ ngàn xoáy,

Nách tay trơn liền giữ trong ngoài,

Ngón tay thon, cánh tay thẳng dài,

Da mịn màng, lông xoáy bên phải,

Gót gối không lộ, mã âm kín,

Gân nhỏ, xương liền, ruột loài dê,

Trong ngoài trong suốt sạch không dơ,

Như nước sạch không hề dính bụi.

Dường ấy ba mươi hai tướng tốt,

Tám mươi vẻ đẹp có thể thấy,

Mà thật không tướng, không sắc tướng,

Tất cả tướng, mắt đối toàn không,

Từ tướng không tướng, có tướng thân,

Thân tướng chúng sinh, tướng cũng vậy;

Khiến cho chúng sinh vui mừng lạy,

Tâm chí thành cung kính ân cần,

Nhân đó tiêu trừ lòng kiêu mạn.

Thành tựu sắc thân đẹp như thế,

Đệ tử chúng con gồm tám vạn,

Xin cúi đầu kính lạy qui y,

Đấng tư tưởng tâm ý tĩnh lặng,

Bậc Thánh Điều Ngự không đắm trước.

Cúi đầu qui y pháp, sắc thân,

Đủ giới, định, tuệ, giải, tri kiến,

Cúi đầu qui y bao tướng đẹp,

Cúi đầu qui y khó nghĩ bàn.

Tiếng sấm Phạm âm vang tám thứ[24],

Vi diệu thanh tịnh rất sâu xa,

Bốn đế, sáu độ, mười hai duyên,

Tùy thuận chúng sinh nghiệp tâm chuyển,

Ai nghe được tâm ý đều mở,

Diệt vô lượng phiền não sinh tử.

Người nghe hoặc chứng Tu-đà-hoàn,

Tư-đà, A-na, A-la-hán,

Bậc Duyên-giác vô lậu vô vi,

Bậc Bồ-tát không sinh không diệt;

Hoặc được vô lượng đà-la-ni[25],

Đại biện tài thuyết pháp vô ngại,

Diễn nói kệ sâu xa nhiệm mầu,

Ao pháp trong thảnh thơi tắm gội,

Hoặc bay, hoặc nhảy, hiện thần túc,

Thân tự tại ra vào nước lửa.

Pháp luân như thế, tướng như thế,

Thanh tịnh vô biên khó nghĩ bàn.

Chúng con lại cùng nhau cúi đầu,

Qui y vào lúc xe pháp chuyển.

Cúi đầu qui y tiếng Phạm âm,

Cúi đầu qui y duyên, đế, độ [26].

Đức Thế Tôn vô lượng kiếp xưa,

Cần khổ tu tập bao đức hạnh,

Vì chúng con: người, trời, rồng, thần,

Cùng tất cả các loài chúng sinh,

Đã từ bỏ những gì khó bỏ,

Của báu, vợ con và thành quách;

Vì pháp, trong ngoài đều không tiếc,

Đầu, mắt, tủy, não, đều cho người;

Phụng trì tịnh giới của chư Phật,

Dù cho mất mạng không trái phạm;

Dù người dùng dao gậy làm hại,

Mắng chưởi, nhục mạ, không hề giận;

Trải bao kiếp nén mình không mỏi,

Ngày đêm tâm trụ cảnh giới thiền;

Học khắp tất cả các đạo pháp,

Trí tuệ vào sâu căn chúng sinh,

Cho nên nay được sức tự tại,

Tự tại với pháp, là Pháp Vương.

Chúng con xin cúi đầu qui y,

Đấng thành tựu những việc khó làm.”

Phẩm 2 THUYẾT PHÁP

Khi đức Bồ-tát lớn Đại Trang Nghiêm cùng tám vạn vị Bồ-tát lớn khác nói bài kệ khen ngợi Phật xong, lại cùng nhau đồng bạch Phật rằng:

“Bạch Đức Thế Tôn! Tám vạn Bồ-tát chúng con, hôm nay, trong giáo pháp của đức Thế Tôn, có điều muốn hỏi, chẳng biết đức Thế Tôn có rủ lòng thương xót chỉ dạy cho không?”

Phật bảo Bồ-tát Đại Trang Nghiêm và tám vạn vị Bồ-tát rằng:

“Lành thay! Lành thay! Này thiện nam tử! Thật là đúng lúc để các ông nêu câu hỏi. Không bao lâu nữa Như Lai sẽ nhập niết bàn. Sau khi Như Lai nhập niết bàn thì sẽ không còn ai có điều nghi ngờ gì nữa. Vậy các ông muốn hỏi gì thì nên hỏi.”

Bấy giờ Bồ-tát Đại Trang Nghiêm cùng tám vạn vị Bồ-tát, liền đồng thanh bạch Phật rằng:

“Bạch Đức Thế Tôn! Hàng Bồ-tát lớn muốn chứng quả vị Giác ngộ cao tột một cách nhanh chóng, cần phải tu tập những pháp môn gì? Những pháp môn gì có thể giúp cho hàng Bồ-tát lớn nhanh chóng chứng được quả vị Giác ngộ cao tột?”

Phật bảo Bồ-tát Đại Trang Nghiêm và tám vạn vị Bồ-tát rằng:

“Này thiện nam tử! Có một pháp môn có thể giúp cho hàng Bồ-tát nhanh chóng chứng được quả vị Giác ngộ cao tột. Nếu có Bồ-tát nào tu tập pháp môn này thì có thể nhanh chóng chứng được quả vị Giác ngộ cao tột.”

“Bạch Đức Thế Tôn! Pháp môn đó tên gọi là gì? Nghĩa lí ra sao? Bồ-tát nên tu tập như thế nào?”

Phật dạy:

“Này thiện nam tử! Pháp môn đó được gọi là “Vô Lượng Nghĩa”. Bồ-tát muốn được tu học pháp môn Vô Lượng Nghĩa, cần phải quán sát tất cả các pháp, từ xưa đến nay, tánh tướng đều rỗng lặng; không lớn không nhỏ, không sinh không diệt, không tiến không lùi, không đứng yên cũng không lay động; giống như hư không, không có hai pháp. Nhưng chúng sinh thì hư vọng phân biệt chấp trước, có đây có kia, có được có mất, rồi khởi niệm bất thiện, tạo các nghiệp ác, luân hồi trong sáu nẻo, chịu đủ mọi điều đau khổ, trải vô lượng ức kiếp không thể tự thoát khỏi. Hàng Bồ-tát lớn quán sát thật kĩ càng như thế, sinh lòng thương xót, phát tâm từ bi rộng lớn, muốn đến cứu độ. Bồ-tát lại quán chiếu sâu xa, thâm nhập vào tất cả các pháp để thấy rõ: pháp có pháp tướng như thế thì sinh như thế; pháp có pháp tướng như thế thì trụ như thế; pháp có pháp tướng như thế thì dị như thế; pháp có pháp tướng như thế thì diệt[27] như thế; pháp tướng như thế thì hay sinh pháp ác, pháp tướng như thế thì hay sinh pháp thiện; ba tướng trụ, dị, và diệt cũng giống như vậy. Bồ-tát cứ như thế mà quán chiếu bốn tướng, từ lúc khởi đầu cho đến lúc cuối cùng, thảy đều biết rõ. Thứ đến lại quán chiếu tất cả các pháp, từng niệm từng niệm không đứng yên, lúc nào cũng có cái mới sinh, lúc nào cũng có cái mới diệt; lại quán chiếu để thấy rõ bốn tướng sinh trụ dị diệt đang xảy ra ngay trong giây phút hiện tại. Quán chiếu như thế rồi, Bồ-tát lại thâm nhập vào căn tánh ham muốn của chúng sinh, để thấy rõ rằng, tánh ham muốn của chúng sinh thật là vô lượng, cho nên nói pháp cũng phải vô lượng; nói pháp vô lượng thì nghĩa lí cũng vô lượng. Vô Lượng Nghĩa là do từ một pháp sinh ra; một pháp đó tức là “vô tướng”. Vô tướng như thế tức là không có tướng nào mà chẳng có tướng, chẳng có tướng nào là không tướng, đó gọi là “thật tướng”. Hàng Bồ-tát lớn đã an trụ nơi tướng chân thật như thế rồi, thì tâm từ bi phát khởi rõ ràng, chắc chắn, không hư dối; đối với chúng sinh thật có thể cứu khổ. Khổ đã cứu rồi thì lại thuyết pháp, khiến cho chúng sinh được an vui.

“Này thiện nam tử! Nếu hàng Bồ-tát lớn có thể tu tập một pháp môn Vô Lượng Nghĩa như thế thì chắc chắn nhanh chóng chứng được quả vị Giác ngộ cao tột.

“Này thiện nam tử! Kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa, văn lí sâu xa trên hết như thế, chân thật tôn quí không có gì sánh bằng, chư Phật ba đời đều cùng bảo hộ, không một ma vương ngoại đạo nào xâm nhập được, tất cả tà kiến sinh tử đều không thể phá hoại được. Cho nên, này thiện nam tử! Hàng Bồ-tát lớn nếu muốn nhanh chóng chứng được quả vị Giác ngộ cao tột, phải nên tu học Kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa sâu xa trên hết này.”

Bấy giờ Bồ-tát Đại Trang Nghiêm lại bạch Phật:

“Bạch Đức Thế Tôn! Đức Thế Tôn nói pháp không thể nghĩ bàn, căn tánh chúng sinh cũng không thể nghĩ bàn, pháp môn giải thoát cũng không thể nghĩ bàn. Đối với các giáo pháp Đức Thế Tôn đã nói, chúng con không hề nghi hoặc; nhưng vì chúng sinh vẫn còn sinh tâm mê hoặc, cho nên chúng con lại xin hỏi tiếp: Bạch Đức Thế Tôn! Từ ngày Đức Thế Tôn thành đạo, cho đến nay đã hơn bốn mươi năm, thường vì chúng sinh mà nói ý nghĩa về bốn tướng của các pháp; những ý nghĩa về khổ, không, vô thường, vô ngã, không lớn, không nhỏ, không sinh, không diệt; tất cả đều là vô tướng; pháp tánh pháp tướng xưa nay vốn rỗng lặng, không đến, không đi, không hiện, không ẩn. Nếu có người nghe mà chứng được pháp Noãn, pháp Đảnh, pháp Thế-đệ-nhất;[28] hoặc chứng được các quả vị như Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán[29], Bích-chi Phật;[30] hoặc phát tâm bồ-đề tiến lên các bậc Sơ-địa, Nhị-địa, Tam-địa, cho đến Thập-địa.[31] Ý nghĩa của các pháp Đức Thế Tôn đã nói ngày trước, có khác gì với pháp nói ngày hôm nay, mà Đức Thế Tôn nói đây là ‘kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa sâu xa trên hết, hàng Bồ-tát tu tập chắc chắn nhanh chóng chứng được quả vị Giác ngộ cao tột’? Việc này thế nào, cúi xin Đức Thế Tôn thương xót tất cả chúng sinh mà phân biệt giảng giải, khiến cho ở đời này và trong đời vị lai, nếu có ai nghe được pháp này thì không còn bị mắc trong lưới nghi nữa!”

Đọc tiếp: Phẩm 2 THUYẾT PHÁP →

Đánh Giá

Chưa có đánh giá nào.

Thêm đánh giá

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *