KINH TRUNG BỘ MAJJHIMA NIKÃYA · Chương 4/150

I. TỔNG QUAN KINH TRUNG BỘ

Kinh Trung bộ (P. Majjhima Nikāya, H. 中部經) là bộ kinh quan trọng thứ hai trong 5 bộ kinh Pāli (Pāli Nikāya) của Phật giáo Thượng Tọa bộ (Theravāda); là tuyển tập 152 bài kinh có độ dài trung bình (The Collection of the Middle Length Sayings) trong Kinh tạng Pāli (Sutta Piṭaka), tương ứng với 222 bài kinh trong Trung A-hàm kinh (S. Madhyama Āgama, H. 中阿含經). Khái niệm “trung” (majjhima, 中) có nghĩa là “trung bình, vừa” về số lượng chữ của từng bài kinh trong bộ này. Tuy nhiên, do số lượng kinh như đã nêu nên Kinh Trung bộ có số trang nhiều gần gấp 3 lần so với Kinh Trường bộ.
Về số lượng, Kinh Trung bộ ít hơn 70 bài kinh so với Trung A-hàm kinh thuộc Thuyết Nhất Thiết Hữu bộ (Sarvāstivāda), trong văn học Hán tạng, được sắp vào vị trí thứ 26 của Đại Chánh tân tu Đại tạng kinh (大正新脩大蔵經, Taishō edition).[1] Vì số lượng bài kinh giữa Kinh Trung bộ và Trung A-hàm kinh khác nhau nên có sự khác biệt lớn về thứ tự bài kinh, cách đặt tựa đề kinh, các khái niệm và nội dung từng bài kinh.
Về văn tự, kinh điển Pāli thường được phân bổ theo độ dài (pamāṇa) của kinh. Kinh Trường bộ là tuyển tập 34 bài kinh có độ dài dài nhất (dīghappamāṇānaṃ suttānaṃ). Kinh Trung bộ là tuyển tập 152 bài kinh có độ dài trung bình (majjhimappamāṇāni suttāni). Kinh Tương ưng bộ trong bản Việt dịch chúng ta gồm 2.854 bài kinh được sắp xếp theo nhóm chủ đề. Kinh Tăng chi bộ là tuyển tập gồm 7.260[2] kinh liên hệ đến pháp số, bắt đầu từ số 1 đến số 11. Kinh Tiểu bộ là một hợp tuyển gồm 15 tập theo chủ đề. Thực ra, cách phân loại tuyển tập kinh như vừa nêu cũng mang tính tương đối.[3]
Phần lớn Kinh Trung bộ, đức Phật giảng cho Tăng chúng về kinh nghiệm tu học, cách sống trong pháp, trong tình huynh đệ và khuyến khích hành đạo (1, 2, 3, 6, 10, 11, 13, 16, 17, 19, 20, 21, 22, 25, 26, 29, 33, 34, 38, 39, 40, 45, 46, 47, 48, 67, 70, 101, 102, 103, 106, 109, 110, 111, 112, 113, 116, 117, 118,
119, 120, 129, 130, 131, 137, 138, 139, 140, 141, 148, 149). Nhiều kinh đức Phật đặc biệt dạy cho các Tôn giả Sāriputta, Ānanda, Mahācunda và nhiều Tôn giả khác (8, 12, 59, 61, 62, 63, 64, 65, 66, 68, 69, 81, 83, 104, 114, 115, 121, 122, 125, 126, 128, 136, 142, 145, 147, 151, 152). Có kinh đức Phật dạy cho các gia chủ (51, 52, 53, 54, 55, 60, 105, 127, 135, 150). Nhiều kinh đức Phật dạy cho ngoại đạo hoặc các vấn đề do ngoại đạo nêu lên được các vị đệ tử Phật thuật lại (4, 7, 13, 27, 30, 35, 36, 41, 42, 56, 57, 71, 72, 73, 74, 75, 76, 77, 78, 79, 80, 91, 92, 93, 95, 96, 98, 99, 100). Nhiều kinh đức Phật giảng cho các vua chúa, quan lại (14, 58, 82, 84, 85, 87, 88, 89, 90, 125). Có kinh đức Phật giảng cho chư thiên (23, 49, 134), giảng cho dạ-xoa (31). Có kinh đức Phật dạy cho tướng cướp giết người (86). Nhiều kinh tường thuật lại cuộc đàm luận của các Tôn giả, đệ tử xuất gia của đức Phật (24, 32, 43); hoặc cuộc đàm thoại giữa đệ tử Phật với ngoại đạo (27, 124). Nhiều kinh các Tôn giả, đại đệ tử của đức Phật giảng cho hội chúng Tỳ-kheo (5, 9, 15, 18, 28,
123, 132, 133); hoặc giảng cho ngoại đạo (97). Có kinh tường thuật Tôn giả Sāriputta thăm bệnh, thuyết pháp cho cư sĩ (143) và cho Tỳ-kheo (144). Có kinh Tôn giả Mahāmoggallāna giảng cho chư thiên (37), hoặc giảng cho Ác ma (50). Có kinh Tôn giả Nandaka giáo giới cho chư Ni (146) và có kinh do nữ Tôn giả Dhammadinnā giải thích các pháp căn bản cho cư sĩ Visākha qua hình thức vấn đáp (44). Một số kinh tường thuật các thời giảng của chư Tôn giả sau khi đức Phật nhập Niết-bàn (94, 108).
Về nội dung, Kinh Trung bộ chứa đựng tất cả những triết học quan trọng của đức Phật, trải dài 45 năm hoằng truyền chân lý bao gồm thế giới quan (không có nguyên nhân đầu tiên), nhân sinh quan (lấy con người làm trung tâm), chính trị quan (dựa trên chủ nghĩa pháp quyền được sự hỗ trợ bởi chân lý), xã hội quan (không giai cấp, mọi người bình đẳng, công bằng, dân chủ), đạo đức quan (dựa vào phòng phi, chỉ ác, dương thiện), tu đạo quan (hoàn thiện đạo đức, thiền định và trí tuệ), giải thoát quan (chấm dứt luân hồi, chứng đắc các quả Thánh). Ngoài ra, Kinh Trung bộ còn có một số bài kinh đối thoại liên tôn giáo và triết học giữa đức Phật với các đạo sĩ Sa-môn và Bà-la-môn đương thời, cũng như giữa các đệ tử đức Phật với các đạo sĩ khác tôn giáo.
Về phân loại, Kinh Trung bộ được chia thành 3 phần (paṇṇāsa), 2 phần đầu, mỗi phần gồm có 50 kinh, riêng phần cuối có 52 kinh. Trong mỗi phần lại chia ra 5 phẩm (vagga), mỗi phẩm có 10 kinh, riêng phẩm thứ 15 gồm 12 kinh. Cấu trúc chia thành 3 phần, 15 phẩm của Kinh Trung bộ được tóm tắt như sau:
1. Phần căn bản (Mūlapaṇṇāsa) 50 bài kinh đầu tiên:

  1. Phẩm Pháp môn căn bản (Mūlapariyāyavagga) gồm các kinh 01-10.
  2. Phẩm Sư tử hống (Sīhanādavagga) gồm các kinh 11-20. (c) Phẩm Pháp thí dụ (Opammavagga) gồm các kinh 21-30.
  1. Phẩm Song đại (Mahāyamakavagga) gồm các kinh 31-40.
  2. Phẩm Song tiểu (Cūḷayamakavagga) gồm các kinh 41-50.

2. Phần giữa (Majjhimapaṇṇāsa) có 50 bài kinh theo thứ tự 51-100:

  1. Phẩm Cư sĩ (Gahapativagga) gồm các kinh 51-60.
  2. Phẩm Tỳ-kheo (Bhikkhuvagga) gồm các kinh 61-70.
  3. Phẩm Người tịnh hạnh (Paribbājakavagga) gồm các kinh 71-80.
  4. Phẩm Vua (Rājavagga) gồm các kinh 81-90.
  5. Phẩm Bà-la-môn (Brāḥmaṇavagga) gồm các kinh 91-100.

3. Phần cuối (Uparipaṇṇāsa) có 52 bài kinh theo thứ tự 101-152:

  1. Phẩm Devadaha (Devadahavagga) gồm các kinh 101-110.
  2. Phẩm Bất đoạn (Anupadavagga) gồm các kinh 111-120.
  3. Phẩm Không (Suññatavagga) gồm các kinh 121-130.
  4. Phẩm Phân biệt (Vibhaṅgavagga) gồm các kinh 131-140.
  5. Phẩm Đại xứ phân biệt (Saḷāyatanavagga) gồm các kinh 141-152.

Điểm đặc biệt của Kinh Trung bộ là phẩm 4 và 5, tức các kinh mang số thứ tự từ 31 đến 50, có cấu trúc “song đôi” (yamaka), cứ 2 kinh có một tựa đề. Kinh thứ nhất với tiếp đầu ngữ “Cūḷa” (Tiểu) là kinh ngắn hơn, kinh tiếp theo với tiếp đầu ngữ “Mahā” (Đại) là kinh dài hơn. Có tất cả 17 cặp kinh như vậy: 11-12, 13-14, 27-28, 29-30, 31-32, 33-34, 35-36, 37-38, 39-40, 43-44, 45-46, 63-64, 77-79, 109-110, 121-122, 135-136, 62-147. Trật tự không được nhất quán, có lúc Tiểu kinh trước Đại kinh, cũng có lúc Đại kinh trước Tiểu kinh (ví dụ, cặp 13-14, 29-30, 33-34, 39-40, 43-44, 77-79, 109-110), có lúc khoảng cách khá xa (62-147).
Về các bản dịch tiếng Anh trọn bộ, Kinh Trung bộ được dịch nhiều hơn bốn bộ còn lại của kinh điển Pāli.
Bản dịch đầu tiên của Lord Chalmers với tựa đề: Further Dialogues of the Buddha (Các cuộc đối thoại sâu sắc của đức Phật), 2 tập (London: Oxford University Press, 1926-27).
Isaline Blew Horner dịch với tựa đề: The Collection of the Middle Length Sayings (Tuyển tập các lời dạy có độ dài trung bình), 3 tập (London: PTS, 1954-59).
Khoảng đầu năm 1960, Bhikkhu Ñaṇamoli dịch bộ này với tựa đề: The Middle Length Discourses of the Buddha: A New Translation of the Majjhima Nikāya (Những bài kinh có độ dài trung bình của đức Phật: Bản dịch mới Kinh Trung bộ), đã hoàn thành bản thảo, nhưng chưa kịp xuất bản rồi viên tịch. Công việc này được Ngài Bhikkhu Bodhi phát tâm hiệu đính, và đặt lại tựa đề mới: The Middle Length Discourses of the Buddha (Các bản kinh có độ dài trung bình của đức Phật), 2 tập. Do đó, tác phẩm được đứng tên bởi Ngài Bhikkhu Ñaṇamoli và Bhikkhu Bodhi (Somerville: Wisdom Publications, 1995; Boston:
Wisdom Publications, 2009).
David W. Evans dịch Discourses of Gotama Buddha: Middle Collection (Các bài giảng của đức Phật Gotama: Tuyển tập các kinh trung bình), (London: Janus Publications, 1991).
Ni sư Uppalavanna dịch toàn bộ 152 kinh sang tiếng Anh và đăng tải trên các trang mạng: www.metta.lk, www.buddhism.org, v.v…
Ngài Bhikkhu Sujato dịch với tựa đề: The Middle Discourses (Các bài kinh trung bình), xuất bản online tại www.suttacentral.net, 2018.
Ngoài ra, còn có các bản tuyển dịch được xuất bản ở một số nước Đông Nam Á. Sớm nhất là bản A Treasury of the Buddha’s Words (Kho báu lời Phật dạy), đứng tên dịch giả là Bhikkhu Ñaṇamoli, được Bhikkhu Khantipalo hiệu đính và xuất bản tại Bangkok, năm 1960, trước khi Ngài Bodhi hiệu đính toàn tập; Hội Kinh tạng Miến Điện tuyển dịch: Twenty-Five Suttas from Mūla-Paṇṇāsā (25 bài kinh trong 50 bài đầu của Kinh Trung bộ), 1986; Twenty-Five Suttas from Majjhima-Paṇṇāsā (25 bài kinh trong 50 bài giữa của Kinh Trung bộ), 1987; và Twenty-Five Suttas from Upari-Paṇṇāsā (25 bài kinh trong 50 bài cuối của Kinh Trung bộ), 1988 do Nxb. Myanmar Piṭaka Association ấn hành tại Rangoon và được Nxb. Sri Satguru, Delhi, tái bản tại Ấn Độ. Ngoài ra, còn có 82 bài kinh được Ngài Bhikkhu Thanissaro chọn dịch, in trong tuyển tập Handful of Leaves (Nắm lá), tập II (California, USA: Metta Forest Monastery, 2018).
Tại Việt Nam, bản dịch của Hòa thượng Thích Minh Châu với tựa đề: Kinh Trung bộ, 3 tập, xuất bản lần đầu năm 1973, tái bản năm 1986, 1992. Đây là bản dịch trung thành với nguyên tác Pāli, có tham khảo bản tiếng Anh của bà I. B. Horner: The Collection of the Middle Length Sayings. Theo Lời giới thiệu của Kinh Trung bộ,[4] Hòa thượng có tham khảo thêm bản tiếng Nhật trong Đại tạng kinh Nam truyền, những ghi chú bằng tiếng Anh và tiếng Hán, khi Hòa thượng theo học ở tại Hội Dharmaduta Vidhyalaya ở Colombo, Tích Lan từ năm 1952 đến 1955. Ấn bản mới nhất được Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam tái bản năm 2012, in thành 2 tập.
Về tài liệu tham khảo cho Kinh Trung bộ trong tiếng Việt có Luận án Tiến sĩ của Hòa thượng Thích Minh Châu tại Đại học Nālandā năm 1961: A Comparative Study of the Chinese Madhyama Āgama and the Pāli Majjhima Nikāya (So sánh Trung A-hàm kinh chữ Hán và Kinh Trung bộ chữ Pāli) được Ni sư Trí Hải dịch ra tiếng Việt và xuất bản năm 1998.
Ngoài ra, còn có các quyển: Tóm tắt Kinh Trung bộ, 1 tập, của Hòa thượng Thích Minh Châu (TP. HCM: Nxb. Văn Hóa Sài Gòn, 2010); Tìm hiểu Kinh Trung bộ, 3 tập, của Hòa thượng Thích Chơn Thiện (Hà Nội: Nxb. Tôn Giáo, 2004); Toát yếu Kinh Trung bộ của Ni sư Trí Hải, 3 tập (Hà Nội: Nxb. Tôn Giáo, 2010); và Hướng dẫn đọc Kinh Trung bộ, 2 tập, của Thượng tọa Thích Nhật Từ (Hà Nội: Nxb. Hồng Đức, 2020).
Kinh Trung bộ lần đầu được Hòa thượng Thích Minh Châu giảng dạy tại phân khoa Phật học, Đại học Vạn Hạnh từ năm 1964-75, sau đó, tiếp tục dạy tại Trường Cao cấp Phật học Việt Nam (1984-97) nay là Học viện Phật giáo Việt Nam (HVPGVN) tại TP. HCM, dạy tại Thiền viện Vạn Hạnh (quận Phú Nhuận, TP. HCM) và Tịnh xá Trung Tâm (quận Bình Thạnh, TP. HCM). Hiện tại, kinh này được dạy ở HVPGVN tại TP. HCM, Hà Nội, Huế cũng như tại một số trong 9 trường Cao đẳng Phật học và một số trong 35 trường Trung cấp Phật học trên toàn quốc.
Ngoài Hòa thượng Thích Minh Châu, các vị Tôn túc có công giảng dạy Kinh Trung bộ gồm có Hòa thượng Hộ Giác, Hòa thượng Thích Chơn Thiện, Ni sư Trí Hải. Từ năm 2005, tại giảng đường chùa Xá Lợi, tôi là người giảng trọn bộ Kinh Trung bộ, mỗi buổi 90-120 phút. Toàn bộ các file âm thanh được phổ biến trên: phatam.com và chuagiacngo.com.
Bản dịch Kinh Trung bộ của Hòa thượng Thích Minh Châu và việc giảng dạy kinh này tại Việt Nam trong hơn 5 thập niên qua đã góp phần làm thay đổi tích cực nền Phật học tại Việt Nam, giúp nhiều thế hệ Tăng Ni Việt Nam không còn xem kinh điển Pāli là kinh điển Tiểu thừa nữa. Trên thực tế, đây là tuyển tập các bài kinh nền tảng nhất về Phật học. Việc xuất bản bộ kinh này tại Việt Nam đã thúc đẩy sự hợp tác giữa Phật giáo Thượng Tọa bộ và Phật giáo Đại thừa trong phạm vi Giáo hội Phật giáo Việt Nam và các Phật sự chung trên toàn quốc.

Mở trong trình đọc kinh