KINH THẮNG MAN · Chương 7/18
5. Xác Quyết Nhất Thừa
Đức Thế tôn dạy Thắng man, hoàng hậu nay hãy nói thêm nữa về sự thu nhận chánh pháp mà Như lai đã nói toàn thể chư vị Như lai đều ưa thích. Thắng man thưa, bạch đức Thế tôn, thu nhận chánh pháp thì gọi là đại thừa. Tại sao, vì đại thừa thì xuất ra tất cả thiện pháp của thế gian và xuất thế, của thanh văn và duyên giác. Bạch đức Thế tôn, như hồ A nậu là nơi phát nguyên của 8 con sông lớn, đại thừa là nơi phát nguyên tất cả thiện pháp của thế gian và xuất thế, của thanh văn và duyên giác. Bạch đức Thế tôn, mọi hạt giống, mọi cây cỏ rừng rú đều do địa cầu mà sinh ra và lớn lên, cũng y như vậy, mọi thiện pháp của thế gian và xuất thế, của thanh văn và duyên giác đều do đại thừa mà sinh ra và lớn lên. Thế nên, bạch đức Thế tôn, trú ở đại thừa, thu nhận đại thừa, thì như thế là trú ở và thu nhận mọi thiện pháp của thế gian và xuất thế, của thanh văn và duyên giác.
Bạch đức Thế tôn, như Ngài dạy về 6 điều, đó là chánh pháp còn, chánh pháp mất, biệt giải thoát, tỳ nại da, chính xuất gia, thọ cụ túc. Ấy là đức Thế tôn vì đại thừa mà nói 6 điều như vậy. Làm sao biết được? Vì chánh pháp còn thì chánh pháp ấy là đại thừa: đại thừa còn là chánh pháp còn. Chánh pháp mất thì chánh pháp ấy là đại thừa: đại thừa mất là chánh pháp mất. Biệt giải thoát với tỳ nại da, 2 điều này nghĩa một mà tên khác. Tỳ nại da (hay biệt giải thoát) là giới học đại thừa, tại sao, vì nương tựa (14) đức Thế tôn mới chính xuất gia và thọ cụ túc. Do vậy, giới học đại thừa là tỳ nại da (hay biệt giải thoát), là chính xuất gia, là thọ cụ túc.
Bạch đức Thế tôn, la hán không có chính xuất gia và thọ cụ túc, vì sao, vì la hán không nương tựa đức Thế tôn thì (không có) chính xuất gia và thọ cụ túc (15) . La hán còn có tư tưởng sợ hãi nên qui y đức Thế tôn. La hán đối với các hành vẫn có tư tưởng sợ hãi, tình trạng như một kẻ cầm kiếm muốn tự hại mình, do vậy, la hán không chứng được sự xuất ly và sự an lạc tuyệt đối. Bạch đức Thế tôn, nương tựa là nương tựa với bậc không cầu sự nương tựa nữa. Mọi sinh vật không có nơi nương tựa, nên sinh vật nào cũng sợ hãi, và muốn yên ổn nên sinh vật nào cũng tìm nơi nương tựa. La hán cũng vậy, vì có tư tưởng sợ hãi nên qui y đức Thế tôn. Thế nên la hán và duyên giác sinh pháp đang còn, phạn hạnh chưa lập, việc làm chưa xong, còn có đoạn trừ, chưa được cứu cánh, cách xa niết bàn. Tại sao, vì chỉ có đức Thế tôn, bậc Đến như chư Phật, bậc Thích ứng hiến cúng, bậc Biết đúng và khắp, mới chứng niết bàn, thành tựu vô lượng công đức ngoài tầm tư duy và thảo luận, cái gì đáng đoạn trừ thì đã đoạn trừ cả rồi, đã thanh tịnh tuyệt đối, làm một bậc cho chúng sinh chiêm ngưỡng, siêu việt lĩnh vực nhị thừa và bồ tát. La hán đâu có được như vậy. La hán được niết bàn, đó chỉ là lời nói phương tiện của đức Thế tôn. Thế nên la hán cách xa niết bàn. Bạch đức Thế tôn, ngài nói la hán duyên giác quán sát giải thoát bằng 4 tuệ giác (16) cứu cánh, được chỗ yên nghỉ; nói như thế toàn là đức Thế tôn nói theo ý người khác, nói không trọn nghĩa. Tại sao con biết như vậy? Vì chết có 2 loại, một là từng đời, hai là thay đổi. Chết từng đời là chúng sinh (chết đời này rồi chết đời khác) một cách liên tục. Chết thay đổi là ý sinh thân của la hán, duyên giác và bồ tát tự tại (17) , cho đến khi thành tựu vô thượng bồ đề, (chỉ thay đổi cấp độ mà thôi). Trong 2 loại chết đó, lấy loại chết từng đời mà nói la hán và duyên giác sinh ra cái tuệ giác ta sinh đã hết; do chứng được niết bàn chưa toàn (18) nên sinh ra cái tuệ giác phạn hạnh đã lập; phàm phu không làm được, 7 bậc đang còn tu học (19) chưa làm xong, các phiền não liên tục đã đoạn trừ trọn vẹn, nên sinh ra cái tuệ giác việc làm đã xong. Còn nói sinh ra cái tuệ giác không còn đời sau, thì la hán duyên giác không thể đoạn trừ tất cả phiền não, nên không trọn vẹn cái tuệ giác không còn mọi sự thọ sinh.
Tại sao như vậy? Vì la hán và duyên giác còn thừa phiền não mà không phải đoạn trừ đã hết, do vậy, các vị ấy không thể trọn vẹn không còn mọi sự thọ sinh. Phiền não có 2 loại, một là phiền não trú địa, hai là phiền não phát sinh. Phiền não trú địa có 4, là kiến của 3 cõi, ái của cõi Dục, ái của cõi Sắc, ái của cõi Vô sắc; 4 phiền não này tạo ra mọi phiền não. Còn phiền não phát sinh (thì có 2 loại). Có loại tương ứng với tâm trong từng sát na (thì gọi là phiền não trú địa); còn loại vô minh trú địa thì vô thỉ đến giờ không tương ứng với tâm (20) . Bạch đức Thế tôn, 4 phiền não trú địa tuy tạo ra phiền não, nhưng so với vô minh trú địa thì toán học và ví dụ cũng không thể đối tỷ. Vô minh trú địa thế lực của nó còn hơn cả ái của cõi Vô sắc. Ví như sắc đẹp, sức mạnh và uy thế của ma vương, và tùy thuộc của nó, làm khuất mờ tất cả chư thiên Tha hóa tự tại; vô minh trú địa cũng vậy, nó làm khuất mờ tất cả 4 phiền não trú địa, nó làm chỗ dựa cho phiền não nhiều hơn hằng sa, và cũng chính nó làm cho 4 phiền não trú địa tồn tại lâu dài. Nó thì tuệ giác la hán duyên giác không thể đoạn trừ, mà đoạn trừ nó thì chỉ có tuệ giác của đức Thế tôn. Bạch đức Thế tôn, đúng như vậy, đúng như vậy, sức mạnh vô minh trú địa rất lớn. Bạch đức Thế tôn, như do thủ làm duyên tố mà nghiệp nhân hữu lậu tạo ra 3 hữu, vô minh trú địa cũng vậy, chính nó làm duyên tố mà nghiệp nhân vô lậu tạo ra ý sinh thân của la hán, duyên giác và bồ tát đại lực (21) . Ý sinh thân của 3 địa vị này, cùng với nghiệp nhân vô lậu, toàn là do vô minh trú địa làm căn cứ. Vô minh trú địa vừa có duyên tố, vừa làm duyên tố. Bạch đức Thế tôn, do vậy, 3 ý sinh thân, cùng với nghiệp nhân vô lậu, toàn là do vô minh trú địa làm duyên tố, giống như ái của cõi Vô sắc. Nhưng, bạch đức Thế tôn, ái của cõi Vô sắc không giống với tác dụng của vô minh trú địa, vô minh trú địa khác với 4 phiền não trú địa: vì khác với 4 phiền não trú địa nên chỉ có đức Thế tôn mới đoạn trừ được. La hán duyên giác chỉ đoạn trừ 4 phiền não trú địa nên lậu tận lực không được tự tại, không thể hiện chứng. Do vậy, nói (la hán duyên giác) lậu tận (chỉ là) lời nói thêm của đức Thế tôn. Thế nên la hán duyên giác với bồ tát tối hậu thân toàn bị vô minh trú địa che khuất, không biết không thấy các pháp, vì không thấy không biết các pháp nên cái đáng đoạn trừ thì chưa đoạn trừ, cái đáng chấm hết thì chưa chấm hết: vì chưa đoạn trừ chưa chấm hết các pháp (đáng đoạn trừ và đáng chấm hết), nên chỉ được sự giải thoát chưa toàn chứ không phải sự giải thoát hoàn toàn, được sự thanh tịnh chưa toàn chứ không phải sự thanh tịnh tất cả, được công đức chưa toàn chứ không phải công đức toàn bộ. Bạch đức Thế tôn, vì được giải thoát chưa toàn chứ không phải giải thoát hoàn toàn, cho đến được công đức chưa toàn chứ không phải công đức toàn bộ, nên biết khổ chưa hết, đoạn tập chưa hết, chứng diệt chưa hết, và tu đạo chưa hết.
Hoàng hậu Thắng man bấy giờ lại thưa: bạch đức Thế tôn, nếu biết khổ chưa hết, đoạn tập chưa hết, chứng diệt chưa hết, tu đạo chưa hết, thì như thế dầu hướng về niết bàn mà chỉ gọi là diệt độ một phần, niết bàn một phần. Nếu biết khổ hoàn toàn, đoạn tập hoàn toàn, chứng diệt hoàn toàn, tu đạo hoàn toàn, thì trong cái thế giới vô thường đổ nát, vị này chứng được cái niết bàn thường còn, vắng lặng và trong mát. Vị này làm người che chở và làm chỗ nương tựa cho cái thế giới không ai che chở, không nơi nương tựa. Nhưng thấy các pháp có cao có thấp thì không chứng niết bàn. Tuệ giác đồng đẳng, giải thoát đồng đẳng, thanh tịnh đồng đẳng, mới chứng niết bàn. Nên niết bàn là đồng đẳng một mùi vị. Một mùi vị ấy là mùi vị giải thoát. Nếu vô minh trú địa mà không đoạn trừ và không chấm hết, thì không được mùi vị đồng nhất và đồng đẳng của niết bàn. Vì sao, vì vô minh trú địa không đoạn trừ và không chấm hết, thì mọi tội lỗi nhiều hơn hằng sa đáng đoạn trừ không đoạn trừ, đáng chấm hết không chấm hết; vì tội lỗi nhiều hằng sa không đoạn trừ và không chấm hết, nên công đức nhiều hơn hằng sa sẽ không trọn vẹn, không thực hiện. Dó đó mà biết vô minh trú địa là nơi phát sinh tất cả phiền não cần phải đoạn trừ: chính từ nó mà phát sinh phiền não nhiều hơn hằng sa, chướng ngại cho tâm, chướng ngại cho chỉ, chướng ngại cho quán, chướng ngại cho định, chướng ngại đẳng trì, chướng ngại da hành, các tuệ giác, các đạo quả, chướng ngại chứng đắc các lực, vô úy. Phải là tuệ giác bồ đề của đức Thế tôn và tuệ giác kim cang của đức Thế tôn mới đoạn được loại phiền não phát sinh này. Loại phiền não phát sinh này nương tựa vô minh trú địa, do vô minh trú địa làm nhân tố và duyên tố. Loại phiền não phát sinh này tương ứng với tâm trong từng sát na, nhưng vô minh trú địa thì vô thỉ đến giờ không tương ứng với tâm. Bạch đức Thế tôn, nhiều hơn hằng sa, tất cả những gì cần phải đoạn trừ bởi tuệ giác bồ đề và tuệ giác kim cang, thì toàn là vô minh trú địa làm căn cứ mà cấu trúc. Tựa như mọi hạt giống và rừng rú đều do địa cầu mà sinh ra và lớn lên, nếu địa cầu hư hỏng, thì mọi hạt giống và rừng rú cũng hư hỏng theo, cũng y như thế ấy, những gì nhiều hơn hằng sa cần phải đoạn trừ bởi tuệ giác bồ đề và tuệ giác kim cang của đức Thế tôn toàn là do vô minh trú địa mà sinh ra và lớn lên. Nếu vô minh trú địa bị đoạn trừ, thì những gì nhiều hơn hằng sa cần phải đoạn trừ bởi tuệ giác bồ đề và tuệ giác kim cang của đức Thế tôn cũng tùy theo mà đoạn trừ. Như thế đó, những gì nhiều hơn hằng sa cần phải đoạn trừ, tức tất cả phiền não trú địa và phiền não phát sinh đoạn trừ cả rồi, thì thực hiện được phẩm chất của đức Thế tôn nhiều hơn hằngsa và ngoài tầm nghĩ bàn, đối với toàn thể các pháp thì chứng được thần thông vô ngại, chứng được trí và chứng được kiến, siêu thoát lỗi lầm, thủ đắc công đức, làm bậc đại pháp vương, tự tại đối với các pháp, đạt đến vị trí tự tại đối với các pháp, và như sư tử gầm lên, rằng ta sinh đã hết, phạn hạnh đã lập, việc làm đã xong, không còn đời sau. Như sư tử gầm lên, đức Thế tôn đã căn cứ vào nghĩa lý cứu cánh mà ghi nhận và tuyên ngôn quyết định như vậy.
Bạch đức Thế tôn, không còn đời sau, tuệ giác này có 2 loại. Loại thứ nhất là các đức Thế tôn sử dụng năng lực thuần hóa mà chiến thắng ma quân, siêu việt thế giới, mọi người chiêm ngưỡng, chứng đắc pháp thân thanh tịnh và ngoài tầm nghĩ bàn, được sự tự tại đối với các pháp sở tri, cao hơn tất cả, không ai trên nữa, không còn làm gì, không thấy có nữa vị trí chứng đắc, hoàn hảo 10 lực, bước lên vị trí tối thắng vô úy, đối với các pháp thì quan sát vô ngại, như sư tử gầm lên, tuyên cáo không còn đời sau. Loại thứ hai là la hán duyên giác vượt được sự sợ hãi của sự sống chết vô cùng, hưởng thụ cái vui giải thoát, nghĩ rằng nay ta đã hết sợ sống chết, không chịu khổ não. Bạch đức Thế tôn, la hán và duyên giác quan sát như vậy, gọi là không còn đời sau, nhưng họ không chứng được niết bàn là chỗ yên nghỉ bậc nhất. Đối với vị trí chưa chứng được đó, dầu không gặp giáo pháp (đại thừa) đi nữa, họ cũng tự biết chỉ chứng được vị trí chưa toàn, và quyết định sẽ chứng được vô thượng bồ đề. Tại sao như vậy, vì thanh văn và duyên giác toàn là sẽ nhập vào đại thừa. Mà đại thừa là Phật thừa. Do vậy, 3 thừa là 1 thừa, chứng 1 thừa là chứng được vô thượng bồ đề. Vô thượng bồ đề là niết bàn. Niết bàn là pháp thân của đức Thế tôn. Mà pháp thân chính là nhất thừa, chứ không có Thế tôn nào khác, không có pháp thân nào khác. Thế tôn là pháp thân, chứng được pháp thân cứu cánh chính là nhất thừa cứu cánh. Nhất thừa cứu cánh thì (thường trú), siêu việt sự liên tục. Tại sao như vậy, bởi vì Thế tôn tồn tại không có giới hạn, đồng đẳng với thì gian cuối cùng. Thế tôn đem đại bi vô giới hạn và đem đại nguyện vô giới hạn mà lợi ích cho thế giới: nói như vậy là nói đúng. Nếu nói Thế tôn là thường trú, là bất tận, là bậc mà thế giới nương tựa được tuyệt đối: nói như vậy cũng là nói đúng. Ấy vậy, bậc mà cùng tận thì gian vị lai làm nơi nương tựa vô tận, thường trú và cứu cánh cho cái thế giới không ai che chở, không nơi nương tựa, bậc ấy là Phật, bậc Đến như chư Phật, bậc Thích ứng hiến cúng, bậc Biết đúng và khắp. Còn Pháp là giáo pháp nhất thừa, Tăng là tăng chúng tam thừa, 2 nơi qui y này không phải qui y cứu cánh, mà chỉ gọi là qui y phần ít. Tại sao, vì (nếu đã nói là) giáo pháp nhất thừa, chứng pháp thân cứu cánh, (thì đáng lẽ) sau đó không còn nói giáo pháp nhất thừa nữa; còn chúng tăng tam thừa thì vì sợ hãi (sinh tử) nên qui y đức Thế tôn, cầu xuất ly, cầu tu học, còn có việc làm, còn phải hướng về vô thượng bồ đề. Nên 2 nơi qui y trên đây không phải qui y cứu cánh, mà là qui y có giới hạn. Nếu chúng sinh được Thế tôn thuần hóa, qui y Thế tôn, được Pháp thấm nhuần, do tâm ưa thích mà qui y Pháp và Tăng tỷ kheo, thì 2 nơi qui y này là do Pháp thấm nhuần và tin tưởng mà qui y, còn qui y Thế tôn thì không phải do Pháp thấm nhuần và tin tưởng mà qui y. Qui y Thế tôn là qui y một cách chân thật; 2 sự qui y Pháp và Tăng (dựa vào) sự chân thật ấy mà gọi (chung) là cứu cánh qui y Thế tôn. Tại sao, bởi vì Thế tôn thì không khác Pháp và Tăng. Do vậy, Thế tôn là 3 qui y. Nói về nhất thừa là nói Thế tôn hoàn thiện 4 vô úy và nói như sư tử gầm. Nếu Thế tôn tùy ý muốn của người (thì Ngài) phương tiện nói nhị thừa là đại thừa. Vì thật ra theo chân lý bậc nhất thì không có nhị thừa, mà nhị thừa nhập vào nhất thừa. Nhất thừa chính là cái thừa chân lý bậc nhất.