KINH THẮNG MAN · Chương 18/18
Ghi Chú
Ghi Chú(1)
Tôi chia toàn văn kinh Thắng man ra 3 phần: 1. được thọ ký, 2. phát bồ đề tâm, 3. nhập Như lai tạng. Trong 3 phần đều có đoạn nhỏ. Đoạn nhỏ có 15. Đoạn 15 cũng là đoạn kết, không kể đến. Còn lại 14 đoạn thì phần 1 có 1, phần 2 có 2-4, phần 3 có 5-14. Tất cả 15 đoạn nhỏ này là bản dịch Cầu na nêu lên, y theo lời kết thúc kinh này. Nay tôi đưa vào bản dịch Lưu chí này, nhưng chỉ để trong mở đóng vòng đơn.
Ghi Chú (2)
Thắng man nghĩa là vòng hoa hơn hết. Hoàng hậu Thắng man có anh là Lưu ly vương, người tàn hại họ Thích, lại có em gái là Kim cương nữ.
Ghi Chú (3)
Biệt danh là Thiện tín.
Ghi Chú (4)
Dịch âm là A du xà. Dịch nghĩa là Vô sinh: nơi có nhiều bậc hiểu nghĩa vô sinh. Lại dịch nghĩa là Vô đấu: nơi không thể đánh phá. Là quốc đô của Chi tường vương, phụ thuộc nước Xá vệ.
Ghi Chú (5)
Đoạn này chính văn cũng là thể chỉnh cú. Như vậy không chỉnh.
Ghi Chú (6)
Chính văn là 4 thứ của thân: tức sinh lão bịnh tử hay tứ đại chủng.
Ghi Chú (7)
Thân trí tuệ, chính văn là trí thân, dị danh của pháp thân.
Ghi Chú (8)
Có ý kiến nói đoạn này là thọ giới.
Ghi Chú (9)
Gốc rễ điều lành tức là thiện căn. Gọi là thiện căn là 5 thứ tín, tiến, niệm, định, tuệ.
Ghi Chú (10)
Đúng ra thì phải nói 8 vạn pháp uẩn, gọi tắt từ ngữ 84000 pháp uẩn (hay pháp tạng, pháp môn).
Ghi Chú (11)
Là 1 trong 4 thời kỳ thành, trú, hoại, không.
Ghi Chú (12)
Chính văn là thiện bằng (huynh đệ thiện pháp). Cầu na dịch pháp bằng (huynh đệ chánh pháp).
Ghi Chú (13)
Chính văn là mạt ma, dịch nghĩa tử huyệt (huyệt chết), toàn thân có 64 hoặc 120 chỗ.
Ghi Chú (14)
Nương dựa là lấy thêm chữ của bản dịch Cầu na.
Ghi Chú (15)
Chính văn là La hán không vì Như lai xuất gia, thọ cụ túc. Văn và ý đều không rõ. Tôi dịch như đã dịch là lấy chữ và ý của bản dịch Cầu na.
Ghi Chú (16)
Bốn tuệ giác: ta sinh đã hết là 1, thuộc trí tập đế; phạn hạnh đã lập là 2, thuộc trí đạo đế; việc làm đã xong là 3, thuộc trí diệt đế; không còn đời sau là 4, thuộc trí khổ đế. Bốn tuệ giác này cũng là 2 tuệ giác tận trí và vô sinh trí: ta sinh đã hết, phạn hạnh đã lập, việc làm đã xong, không còn đời sau, nói như vậy là tận trí; ta sinh đã hết mà không còn sinh nữa, phạn hạnh đã lập mà không còn lập nữa, việc làm đã xong mà không còn xong nữa, không còn đời sau mà không còn nữa, nói như vậy là vô sinh trí.
Ghi Chú (17)
Ý sinh thân hay ý thành thân, nghĩa chính là cái thân mà các vị bồ tát đã được tự tại muốn sinh đâu tùy ý.
Ghi Chú (18)
Niết bàn chưa toàn là hữu dư y niết bàn. Niết bàn này mới hết tập đế mà chưa hết khổ đế.
Ghi Chú (19)
Ở đây chỉ cho 3 quả (trừ La hán), và 4 hướng.
Ghi Chú (20)
Cắt nghĩa như vầy thì vô minh trú địa chính là cái ý ô nhiễm (gọi là bất cọng vô minh) của Nhiếp luận, hay bất tương ưng nhiễm của Khởi tín. Nói không tương ứng với tâm là lúc tâm thiện nó vẫn ác (trái lại, tương ứng với tâm là khi tâm thế nào thì phiền não thế ấy).
Ghi Chú (21)
Hãy tham khảo đoạn tịnh pháp liên tục như thế nào của Khởi tín luận mới rõ được.
Ghi Chú (22)
Khổ diệt: niết bàn.
Ghi Chú (23)
Chính văn là biết 4 đảo cảnh. Bản Cầu na dịch biết 4 bất điên đảo cảnh giới. Chính 2 lời dịch này cắt nghĩa cho nhau. Biết 4 đảo cảnh là biết các pháp thường là vô thường, các pháp lạc là khổ, các pháp ngã là vô ngã, các pháp tịnh là bất tịnh. Biết 4 bất điên đảo cảnh giới là biết niết bàn không phải vô thường mà là thường, không phải khổ mà là lạc, không phải vô ngã mà là ngã, không phải bất tịnh mà là tịnh. Tiểu thừa biết 4 sự thấy các pháp thường lạc ngã tịnh là đối tượng thác loạn, vô thường khổ vô ngã bất tịnh mới là không thác loạn. Đại thừa biết nói niết bàn vô thường khổ vô ngã bất tịnh là thác loạn, thường lạc ngã tịnh mới là phẩm chất không thác loạn.
Ghi Chú (24)
Đoạn này, từ câu “Tuệ giác trong sạch ấy” cho đến đây, tôi dịch như vậy, nhưng không xác định được 4 nhập lưu là gì, nên dịch không bảo đảm. Bản Cầu na cũng không giúp được gì.