KINH TĂNG NHẤT A HÀM · Chương 96/388
KINH TĂNG NHẤT A-HÀM (PHẦN 5)
Bấy giờ, Đại Ca-diếp và A-nan nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ phụng hành. [148]
[1]
Pāli, A.VII. 68 Dhammaññū (R.iv. 113). Hán, Trung , kinh 1. [2]
Pāli: dhammaññū (biết pháp), atthaññū (biết nghĩa), attaññū (biết mình), mattaññū (biết tiết độ), kālaññū (biết thời), parisaññū (biết đại chúng), puggalaparoparaññū (biết sự cao thấp của người). Trung , k.1: tri pháp 知法 , tri nghĩa 知義 , tri thời 知時 , tri tiết 知節 , tri kỹ 知
己 , tri chúng 知眾 , tri nhân thnắg như 知人勝如 . [3]
Trung , ibid.: Tỳ kheo biết mình: “Ta có tín, giới, thí, văn, huệ như vậy…” Pāli: bhikkhu attānaṃ jānāti– ‘ettakomhi saddhāya sīlena sutena cāgena paññāya paṭibhānenā’ti . [4]
Pāli, A.VII. 69. Pārichattaka. Hán, Trung , kinh 2. [5]
Trú độ thọ 晝度樹 . Pāli: Parichattaka. [6]
Sinh la võng 生羅網 . Pāli: jālakajāta . Hán hiểu là jāla-jāta : sinh lưới, thay vì jālaka-jāta , sinh chồi non. [7]
Văn curna về bốn thiền, xem kinh 1 phẩm 12. [8]
Pāli, Udakūpama (R. iv. 12). Hán, Trung , kinh 4. [9]
Hán dịch mục này khác thứ tự với Trung và Pāli: đây là hạng người nổi lên rồi trụ được, không chìm trở lại. [10]
Pāli: đắc Dự lưu. [11]
Hán dịch mục này trái thứ tự với Trung và Pāli: đây là hạng người ngoi lên khỏi nước rồi, đã trụ được, còn có thể quán sát. [12]
Hạng chứng Nhất lai. [13]
Trên Tịnh cư thiên. [14]
Pāli, A.VII. 67. Nagara (R. iv. 105). Hán, Trung, kinh 3. [15]
Hán: viễn quốc 遠國 . Trung : biên thành 邊城 , thành trì ở biên địa. Pāli: paccantimaṃ nagaraṃ . [16]
Đoạn nói về phòng hộ căn môn, rải rác trong nhiều kinh, nhưng văn dịch không thống nhất. [17]
Hán: đa phương tiện 多諸方便 , nên hiểu: nhiều nổ lực, tnh cần. [18]
Tức tu bốn thiền. Pāli: catunnaṃ jhānānaṃ ābhicetasikānaṃ . [19]
Hán: bất thoát lậu 不脫漏 . Nên hiểu: dễ chứng đạt, không khó. Pāli: nikāmalābhī hoti akicchalābhī akasiralābhī . [20]
Nguyên Hán:ấm, trì, nhập.. [21]
Nguyên Hán: thần chỉ xứ 神止
處 . Xem, Trường , kinh 9 (Chúng tập) Pāli, Cf. D.iii. tr. 253. satta viññāṇaṭṭhitiyo . [22]
Hán dịch không xác định: chỉ một phần chư thiên thuộc thôi. [23]
Hán: sơ xuất thế gian, dịch không hết ý. Nên hiểu: khi kiếp mới sáng thành. [24]
Pāli, S. 46. 16 Gilāna (3) (R.v. 81). [25]
Quân-đầu. Pāli: Mahā-Cunda. Nhưng, bản Pāli nói đức Phật bệnh, và Cunda làm thị giả chăm sóc bịnh, chứ không phải Cunda bệnh. [26]
Bản Pāli: Phật bảo Cunda nói 7 giác chi. Cunda nói xong, Phật khỏi bệnh. [27]
Pāli, S.46. 42. Cakkavatti (R. v. 99). [28]
Túc tán vương, chỉ các Tiêu vương, chư hầu của Chuyên luân. [29]
Tham chiếu Pāli, M. 23 Vammika (R. i. 142). [30]
Đồng Chân Ca-diếp 童真迦葉 . Pāli: Kumārakassapa. Xem Trường, kinh 7 (Tệ-tú); D. 23. Pāyāsi. [31]
Trú ám viên. Pāli: Andhavana, khu rừng ở pía nam Xá-vệ. [32]
Pāli: vammika , gò mối. [33]
Pāli: divā pajjalati , ban ngày rực sáng. [34]
Hán: tạc sơn 鑿山 . Bản Pāli: cầm gươm mà đào gò mối lên. [35]
Hán: phụ vật 負物 . Pāli: thấy cái then cửa ( laṅgī ). [36]
Pāli: ukkhipa . hãy lấy lên. Hán hiểu là nikkhipa , hãy để xuống. [37]
Hán: nhị đaok. Pāli: dvidhāpatha , đường đi có hai lối. [38]
Pāli: nāga . có thể hiểu là rắn (thần), cũng có thể là rồng. [39]
Pāli: namo karohi nāgassa , hãy đảnh lễ (xưng nam-mô) con rắn. [40]
Thứ tự các vật đào được trong Hán dịch khác với bản Pāli. Có ba vật không đòng nhất được giữa Hán và Pāli. Hán: núi, cái gông, cành cây. Pāli: caṅgavāra (cái bát), kumma (con rùa), asisūna (dao mổ bò). [41]
Hán: nhược tùng ngã văn 若從我聞 . Hán có thể dịch sai, So sanh Pāli (định cú): ito vā pana sutvā , hoặc nghe từ đó; tức những ai nghe từ Phật hay đệ tử của Phật. Nhưng tiếng Phạn ít khi dùng từ nhân xưng, nên Hán dịch tự tiện thêm từ “tôi” vào. Tham chiếu, Trung 25 (tr. 584c29): 唯有如來.如來弟子或從此聞 . [42]
Học nhân 學人 , chỉ Thánh giả hữu học. [43]
Pāli: Bát đựng ( caṅgavāra , Hán?) chỉ năm triền cái ( pañca nīvaraṇānaṃ ). [44]
Pāli: không có. [45]
Pāli: con dao mổ ( asisūna ) chỉ năm dục ( pañca kāmaguṇānaṃ ). [46]
Pāli: then cửa ( laṅgī ) chỉ vô minh ( āvijjā ). [47]
Pāli: chỉ Tỳ kheo lậu tận ( khīṇāsavassetaṃ bhikkhuno ). [48]
Pāli, M. 24 Rathavinīta (R. i. 146). Hán, Trung , kinh 9. [49]
Mãn Nguyện Tử. Pāli: Puṇṇa Mantāṇiputta. [50]
Puṇṇa Mantāṇiputta quê ở Donavatthu, gần Kapailavatthu. [51]
Bổ nạp y 補納衣 , đây chỉ y phấn tảo. [52]
Để bản: giải thóat kiến tuệ. [53]
Đoạn này có thể do Hán dịch tự thêm thắt, vì mầu thuẫn với đoạn cuối, theo đó, Xá-lợ-phất cho tới khi kết thúc luận đọa moiứ nhận ra người đối thoại là Mãn Nguyện Tử. Sự kiện này phù hợ với tường thuật của Pāli, và Trung A-hàm. [54]
Biến cách 7 của Phạn ngữ đây dịch thành sở do , thay vì sở y . Nên hiểu: (chúng ta) ở nơi Thế tôn, hay nương nơi Thế tôn (sở y), mà tu phạm hạnh. Như vậy để có mạch lạc với những hỏi và câu trả lời đoạn sau. [55]
Biến cách 7, Hán dịch thành sở do, nên câu hỏi trở thành vô lý. Nên hiểu: “có phải (chúng ta) nương nơi Thế tôn (sở y, biến cách số 7) mà tu phạm hạnh …?” [56]
Pāli: sīlavisuddhatthaṃ , (có phải) vì mục đích giới thanh tịnh? [57]
Pāli: cittavisuddhatthaṃ , vì mục đích tâm thanh tịnh. [58]
Pāli: kaṅkhāvitaraṇavisuddhatthaṃ , độ nghi tịnh, vì mục đích sự thanh tịnh do vượt qua hoài nghi. [59]
Pāli: paṭipadāñāṇadassanavisuddhatthaṃ , đạo tích kiến tịnh, vì mục đích thanh tịnh của tri kiến về phương pháp hành trì. Thứ tự trong bản Pāli, mục đích này ở sau đạo phi đạo kiến tịnh. [60]
Pāli: maggāmaggañāṇadassanavisuddhatthaṃ , đạo phi đạo kiến tịnh, vì mục đích thanh tinh về sự thấy rõ đau là Thánh đạo và đâu là không phải. Xem cht. 59 trên. [61]
Hán: nghĩa, nên hiểu là “mục đích.” Pāli: atthaṃ . [62]
Pāli: ñāṇadassanavisuddhi yāvadeva anupādāparinibbānatthā , tri kiến thanh tịnh là vì mục đích vô dư Niết-bàn (không còn chấp thủ). [63]
Nguyên hán: thọ nhập chi mạo 受入之貌. [64]
Đoạn dịch hán này tối nghĩa. So sanh Pāli: Xá-lợi-phất hỏi, “Phải chăng giới thanh tịnh là Niết-bàn không còn chấp thủ?” cho đến “tri kiến thanh tịnh là Niết-bàn không còn chấp thủ?” Mãn Nguyện Tử đều trá lời không phải. Nhưng ngoài các pháp được hỏi đó cũng không có pháp nào để đến Niết bàn. Nếu không, phàm phu cũng đạt đến Niết-bàn, vì phàm phu không có những pháp đó. [65]
Câu này Hán dịch rõ ràng sai. Vì các pháp mà Xá-lợi-phất vừa hỏi nhất định không thể có nơi phàm phu. Xem cht. 64 trên. [66]
Di-đa-na-ni 彌多 [06] 那尼 . Skt. Maitrāyaṇi, nhưng Pāli: Mantāni. [67]
Nguyên Hán: đại chủ 大主 . Xá-lợi-phất được xưng tụng là vị Đại tướng quân của Chánh pháp. [68]