KINH TĂNG NHẤT A HÀM · Chương 350/388
KINH TĂNG NHẤT A-HÀM (PHẦN 7)
Bấy giờ, Tôn giả A-na-luật tư duy dục bất tịnh tưởng [218] , có niệm, khinh an và hỷ [219] mà vào sơ thiền. Lúc đó, Nan-đề và Kim-tỳ-la biết trong tâm niệm của A-na-luật, nên cũng tư duy dục bất tịnh tưởng, có niệm, khinh an và hỷ* mà vào sơ thiền. Nếu tôn giả A-na-luật tư duy nhị thiền, tam thiền, tứ thiền, bấy giờ tôn giả Nan-đề và Kim-tỳ-la cũng tư duy nhị thiền, tam thiền, tứ thiền. Nếu Tôn giả [ 629b01 ] A-na-luật tư duy không xứ, thức xứ, vô sở hữu xứ, phi tưởng phi phi tưởng xứ, tôn giả Nan-đề và Kim-tỳ-la cũng lại tư duy không xứ, thức xứ, vô sở hữu xứ, phi tưởng phi phi tưởng xứ. Nếu tôn giả A-na-luật tư duy diệt tận định, [220] bấy giờ tôn giả Nan-đề và Kim-tỳ-la cũng lại tư duy diệt tận định. Như các pháp này, các hiền giả cũng tư duy như vậy.
Bấy giờ, Thế Tôn đến vườn Sư tử, [221] lúc đó người giữ vườn [222] từ xa trông thấy Thế Tôn đến, liền thưa:
“Sa-môn chớ vào trong vườn! Vì sao vậy? Vì trong vườn này có ba vị thiện gia nam tử tên là A-na-luật, Nan-đề và, Kim-tỳ-la. Hãy cẩn thận chớ quấy nhiểu họ.”
Lúc đó, tôn giả A-na-luật bằng thiên nhĩ thông [223] nghe người giữ vườn nói với Thế Tôn như vậy, không để Ngài vào vườn*, Tôn giả A-na-luật liền ra bảo người giữ cửa [224] rằng:
“Chớ ngăn! Nay Thế Tôn đến đây, là muốn đến thăm chỗ này.”
Sau đó tôn giả A-na-luật liền vào báo Kim-tỳ-la:
“Đi nhanh, Thế Tôn hiện đang ở ngoài cửa vườn.”
Bấy giờ ba tôn giả liền rời khởi tam-muội, [225] đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ sát chân, rồi đứng qua một bên. Mỗi vị tự thưa:
“Lành thay, Thế Tôn đã đến!”
Tôn giả A-na-luật đón lấy bình bát Thế Tôn. Tôn giả Nan-đề trải chỗ ngồi. Tôn giả Kim-tỳ-la lấy nước cho Thế Tôn rửa chân.
Bấy giờ Thế Tôn bảo tôn giả A-na-luật:
“Ba ngươi ở đây hòa hợp không có trái ý nhau? Khất thực có như ý không?”
A-na-luật thưa:
“Thật vậy, bạch Thế Tôn, khất thực không gì khó nhọc. Vì sao vậy? Vì khi con tư duy sơ thiền, bấy giờ Nan-đề, Kim-tỳ-la cũng tư duy sơ thiền. Nếu con tư duy nhị thiền, tam thiền, tứ thiền, không xứ, thức xứ, vô sở hữu xứ, phi tưởng phi phi tưởng xứ, diệt tận định, lúc đó Nan-đề, Kim-tỳ-la cũng tư duy nhị thiền, tam thiền, tứ thiền, không xứ, thức xứ, vô sở hữu xứ, phi tưởng phi phi tưởng xứ, diệt tận định. Như vậy, bạch Thế Tôn, chúng con tư duy về pháp này.”
Thế Tôn bảo:
“Lành thay, lành thay, A-na-luật! Vào lúc ấy các ngươi có đạt được pháp thượng nhân không?”
A-na-luật thưa:
“Thật vậy, thưa thế tôn, chúng con đạt được pháp thượng nhân.”
Thế Tôn bảo:
“Pháp thượng nhân là gì?”
A-na-luật thưa:
“Có pháp vi diệu này vượt lên trên pháp thượng nhân. Nếu chúng con lại rải tâm từ trải đầy khắp một phương; hai phương, ba phương, bốn phương cũng lại như vậy; bốn phía, trên dưới cũng lại như vậy; trong tất cả, mỗi mỗi đều rải tâm từ trải đầy khắp trong đó, vô số, vô hạn, không thể tính hết, mà tự an trú*. Lại rải tâm bi, tâm hỉ, tâm hộ (xả) đầy khắp một phương, hai phương, ba phương, bốn phương, và bốn phía, trên dưới mà tự an trú cũng lại như vậy. Đó gọi là, bạch Thế Tôn, chúng con đạt thêm được pháp thượng nhân nữa.”
Bấy giờ, tôn giả Nan-đề, Kim-tỳ-la nói với A-na-luật:
“Có bao giờ chúng tôi đến tôn giả để hỏi nghĩa này đâu, mà hôm nay trước Thế Tôn lại tự nói như vậy?”
Tôn giả A-na-luật đáp:
“Các Hiền giả cũng chưa bao giờ đến tôi để hỏi nghĩa này. Nhưng chư thiên đã đến chỗ tôi mà nói nghĩa này, cho nên ở trước Thế Tôn tôi nói nghĩa này vậy. Lại nữa, lâu nay tôi biết tâm ý của các Hiền giả, là các Hiền giả đã đạt được tam-muội này, nên ở trước Thế Tôn tôi nói những lời này.”
Trong lúc thuyết pháp này, đại tướng Trường Thọ đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ sát chân, ngồi qua một bên. Rồi đại tướng Trường Thọ [226] bạch Thế Tôn:
“Hôm nay có phải Thế Tôn vì các Tỳ-kheo này mà thuyết pháp?”
Lúc ấy Thế Tôn đem nhân duyên này kể lại cho đại tướng Trường Thọ. Đại tướng bạch Thế Tôn:
“Đại quốc Bạt-kỳ sớm được lợi lớn, vì có ba thiện gia nam tử A-na-luật, Nan-đề, Kim-tỳ-la này du hóa.”
Thế Tôn bảo:
“Đại tướng, thật vậy, như lời ông nói. Đại quốc Bạt-kỳ được thiện lợi. Hãy không nói đại quốc Bạt-kỳ, mà đại quốc Ma-kiệt cũng được thiện lợi mới có ba vị thiện gia nam tử này. Nếu mọi người dân trong đại quốc Ma-kiệt này mà nhớ đến ba thiện gia nam tử này, sẽ được an ổn lâu dài. Đại tướng nên biết, nếu huyện ấp, thành quách nào có ba vị thiện gia nam tử này ở trong những thành quách đó, mọi người dân sẽ được an ổn lâu dài. Nhà nào sinh ra ba vị thiện gia nam tử này cũng được lợi lớn, vì đã sinh ra người được tôn quý nhất này. Cha mẹ năm đời thân tộc của họ, nếu nhớ đến ba người này thì cũng được lợi lớn. Nếu trời, rồng, quỷ, thần nhớ đến ba thiện gia nam tử này, thì cũng được lợi lớn. Nếu có người nào khen ngợi bậc A-la-hán thì, cũng nên khen ngợi ba người này. Nếu có người nào khen ngợi người không tham dục, không ngu si, không sân nhuế thì, cũng nên khen ngợi ba người này. Nếu có người nào khen ngợi người có ruộng phước này thì, cũng nên khen ngợi ba người này. Như Ta ở trong ba A-tăng-kỳ kiếp thực hành cần khổ thành vô thượng đạo, khiến ba người này thành tựu nghĩa pháp này. Cho nên Đại tướng đối với ba thiện gia nam tử này nên khởi lòng hoan hỷ. Đại tướng, hãy học điều này như vậy.”
Đại tướng sau khi nghe những gì Thế Tôn dạy, hoan hỷ phụng hành.
KINH SỐ 9 Tôi nghe như vầy:
Một thời đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn bảo các tỳ-kheo:
“Có ba kết sử trói buộc chúng sanh khiến không thể từ bờ này đến bờ kia được. Những gì là ba? Là thân tà, giới đạo, nghi.” [227]
“Thế nào gọi là kết bởi thân tà? Chấp thân có ngã, nảy sinh tưởng về tôi ta, có tưởng về chúng sanh, có mạng, có thọ, có nhân, có sĩ phu, có duyên, có trước. Đó gọi là kết bởi thân tà.
“Thế nào là kết bởi nghi? Có ngã chăng? Vô ngã chăng? Có sinh chăng? Không sinh chăng? Có ngã, nhân, thọ mạng, chăng? Không ngã, nhân, thọ mạng chăng? Có phụ mẫu chăng? Không phụ mẫu chăng? Có đời này, đời sau chăng? Không đời này, đời sau chăng? Có sa-môn, bà-la-môn chăng? Không sa-môn, bà-la-môn chăng? Đời có A-la-hán chăng? Đời không A-la-hán chăng? Có người chứng đắc chăng? Không người chứng đắc chăng? Đó gọi là kết bởi nghi.
“Thế nào là kết bởi giới đạo? Ta do giới này mà sinh vào gia đình giòng họ lớn, sinh nhà trưởng giả, sinh nhà bà-la-môn, hoặc sinh lên trời, hay trong các thần. Đó gọi là kết của giới đạo.
“Như vậy, này Tỳ-kheo, có ba kết này trói buộc chúng sanh, khiến không thể từ bờ này đến bờ kia. Giống như hai con bò cùng một ách tất không rời nhau. [228] Chúng sanh này cũng lại như vậy, bị ba kết trói chặt không thể từ bờ này đến bờ kia được.
“Thế nào là bờ này, thế nào là bờ kia? Bờ này chính là thân tà; bờ kia chính là thân tà bị diệt. Này Tỳ-kheo, đó gọi là ba kết trói buộc chúng sanh, không thể từ bờ này đến bờ kia. Cho nên, này các Tỳ-kheo, cần phải tìm cách tiêu diệt ba kết này. Các Tỳ-kheo, hãy học điều này như vậy.
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
KINH SỐ 10 [229] Tôi nghe như vầy:
Một thời đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ Đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn bảo các tỳ-kheo:
“Có ba tam-muội này. Những gì là ba? Là Không tam-muội, Vô tướng tam-muội, Vô nguyện tam-muội. [230]
“Thế nào là Không tam-muội? Không là quán tất cả các pháp đều là không hư. Đó gọi là không tam-muội.
“Thế nào là vô tướng tam-muội? Vô tướng là đối với tất cả các pháp tất cả đều không tưởng niệm gì, cũng không có gì được thấy. Đó gọi là vô tưởng tam-muội.
“Thế nào là vô nguyện tam-muội? Vô nguyện là đối với tất cả các pháp cũng không mong cầu. Đó gọi là vô nguyện tam-muội.
“Như vậy, này các Tỳ-kheo, ai không đạt được ba tam-muội này thì ở lâu nơi sinh tử, không thể tự giác ngộ. Cho nên, này các Tỳ-kheo, hãy tìm cầu phương tiện đạt được tam-muội này. Các Tỳ-kheo, hãy học điều này như vậy.
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
Kệ tóm tắt:
Tràng, Tỳ-sa, pháp vương,
Cù-mặc, thần túc hóa;
Trai giới, hiện tại tiền,
Trường Thọ, kết, tam-muội. [231]
[1] Tham chiếu Pāli, A IV 34 Aggappasadā (R ii. 34): bốn đức (tịnh tín) tối thượng: tịnh tín Phật (
buddhe pasannā ), tịnh tín Pháp là Thánh đạo tám chi (ar iye aṭṭhaṇgike magge pasannā ), tịnh tín Pháp ly dục ( virāge dhamme pasannā ), tịnh tín Tăng (s aṅghe pasannā ). [2] Nê-duy-tiên
尼維先 : phi tưởng phi phi tưởng. Pāli: nevasaññināsaññino , cf. A. ibid. [3] Nhũ
乳 , lạc 酪 , tô 酥 , đề hồ 醍醐 ; 5 vị từ sữa, Pāki: khīra : sữa; dadhi : sữa đông (lạc), navanīta : bơ sống (sanh tô), sappi : bơ lỏng; sappimaṇḍa : bơ đặc (đề hồ). [4] Pāli, ibid., hưởng năm phước: tuổi thọ (
āyu ), nhan sắc ( vaṇṇa ), danh tiếng ( yaso kitti ), an lạc ( sukkha ), sức lực ( bala ). [5] Cf.
Trường kinh 9: Chúng tập; Tập dị 5 (tr. 385c12), ba phước nghiệp sự: thí loại phước nghiệp sự 施類福業事 , giới loại phước nghiệp sự 戒類福業事 , tu loại phước nghiệp sự 修類福業事 . Pāli : tīṇi puññakiriyavatthūni– dānamayaṃ puññakiriyavatthu, sīlamayaṃ puññakiriyavatthu,
bhāvanāmayaṃ puññakiriyavatthu (D 10, R. iii. 218). [6] Bình đẳng phước nghiệp
平等福業 . Theo nội dung, nên hiểu là giới (Pāli: sīla ). [7] Tư duy
思惟 , ở đây hiểu là tu tập (Pāli: bhāvanā ). [8] Nguyên Hán: y vô quán
依無觀 , nghĩa không rõ. Trên kia dịch là y quán 依觀 . Xem Phẩm 12, kinh 2, cht. 35. [9] Xứ sở
處所 , hay xứ 處 . Tập dị, ibid.: sự; Pāli, ibid. vatthu , căn cứ, cơ sở. [10] Tham chiếu Pāli, M 38 Mahā-taṇhāsaṅkhaya (R.i. 266) , do ba sự hòa hiệp mà có nhập thai (
tiṇṇaṃ sannipātā gabbhassāvakkanti hoti ): cha mẹ giao hội ( mātāpitaro sannipatitā ), mẹ có kinh nguyệt ( mātā utunī hoti ), hương ấm hiện diện ( gandhabbo paccupaṭṭhito hoti ). Xem Tì-bà-sa 48 (tr. 24888c24). [11] Tham chiếu, A III 75 Nivesaka (R. i. 222): khuyến khích (
samādapetabbā ), xác lập ( nivesetabbā ), an lập ( patiṭṭhāpetabbā ) những người mình yêu thương ( ye anukampeyyātha ) trong ba xứ ( tīsu ṭhānesu ). [12] Pāli, ibid.,
buddhe aveccappasāde , Phật chứng tịnh, tín tâm bất hoại (bất động) ở nơi Phật. [13] Pāli, ibid.,
dhamme aveccappasāde , Pháp chứng tịnh, tín tâm bất hoại (bất động) nơi Pháp. [14] Pāli, ibid.,
saṅghe aveccappasāde , Tăng chứng tịnh, tín tâm bất hoại (bất động) nơi Tăng. [15] Thập nhị Hiền Thánh
十二賢聖 , chưa rõ cách tính này. Xem Trung kinh 127 (Phước điền): 18 bậc Thánh hữu học; cf. Pāli, A. II. 4.4. [16] Pāli, S. 6. 10 Kokālika (R. i. 149).
[17] Cù-ba-li
瞿波離 . Pāli: Kokālika. [18] Liên hoa địa ngục
蓮華地獄 . Pāli: Paduma-niraya. [19] Pāli, A III 16 Apaṇṇaka (R.i. 113).
[20] Pāli, ibid.,
bhikkhu apaṇṇakapaṭipadaṃ paṭipanno hoti, yoni cassa āraddhā hoti āsavānaṃ khayāya , tỳ kheo hành đạo vô hý luận, đó là căn nguyên dẫn đến diệt tận các lậu. [21] Pāli, ibid.,
indriyesu guttadvāro , thủ hộ căn môn. [22] Hán: bất thất kinh hành
不失經行 . Pāli: jāgariyaṃ anuyutto , tinh cần tỉnh giác. [23] Pāli:
na nimittaggāhī hoti nānubyañjanaggāhī , không nắm bắt tướng chung, không nắm bắt tướng riêng. [24] Pāli: ibid.,
Yatvādhikaraṇamenaṃ cakkhundriyaṃ asaṃvutaṃ viharantaṃ abhijjhādomanassā pāpakā akusalā dhammā anvāssaveyyuṃ tassa saṃvarāya paṭipajjati, rakkhati cakkhundriyaṃ, cakkhundriye saṃvaraṃ āpajjati . Do những nhân tố nào mà tham ưu, và pháp ác, bất thiện chảy lọt vào, do nhãn căn không được thủ hộ; để phòng hộ nhân tố ấy, nên thủ hộ nhãn căn. [25] Hán: cố thống
故痛 . Pāli: purāṇañca vedanaṃ . [26] Hán: ấm cái
陰蓋 , hay triền cái. Pāli: āvaraṇīyehi dhammehi cittaṃ parisodheti , làm thanh tịnh khỏi các pháp phú chướng. [27] Hán: thành nhị quả
成二果 ; trong hiện tại đạt được hai quả: chánh trí A-la-hán, hoặc A-na-hàm. bản Hán sót. Đaon dưới chi tiết đủ hơn. [28]
Câu này nhảy sót trong bản Hán. Xem cht, ngay trên. [29]
Xem các cht. 17 & 28 ngay trên. [30] Tô
酥 ; gồm sanh tô (Pāli: takka ) và thục tô (Pāli: navanīta ). Xem cht. 3 kinh số 3 ở trên. [31] Du
油 ; thường là dầu mè (Pāli: tela ). [32] Cf. Pāli, Dhp. 361.
kāyena saṃvaro sādhu, sādhu vācāya saṃvaro; manasā saṃvaro sādhu, sādhu sabbattha saṃvaro; sabbattha saṃvuto bhikkhu, sabbadukkhā pamuccati , Lành thay, thân phòng hộ! Lành thay, ngữ phòng hộ! Lành thay, ý phòng hộ! Tỳ-kheo tất cả phòng hộ, giải thoát tất cả khổ. [33] Tam hành tích; chỉ ba nghiệp đạo (Pāli:
kammapatha ) [34] Xem, kệ Thất Phật,
Tứ phần Tỳ-kheo giới bản (T22n1429, tr. 1022c5). Cf. Pāli, Dhp. 281 vācānurakkhī manasā susaṃvuto, kāyena ca nākusalaṃ kayirā ete tayo kammapathe visodhaye, ārādhaye maggam isippaveditaṃ , thủ hộ ngôn ngữ, chế ngự ý; thân không hành bất thiện, ba nghiệp đạo này tịnh, đạt đến con đường mà đấng Đại Tiên (Phật) đã chỉ. [35] Pāli, M 13 Mahādukkhakkhandhasuttaṃ (R.i. 83). Hán, Trung 99 (T1n26, tr. 584c8).
[36] Ngoại đạo Phạm chí
外道梵志 . Pāli: aññatitthiya-paribbājaka , ngoại đạo xuất gia, phổ hành (du sỹ) dị học. [37] Dị học Phạm chí
異學梵志 , như ngoại đạo Phạm chí. [38] Pāli, ibid.,
kāmānaṃ pariññaṃ kāmānaṃ pariññaṃ , thi thiết dục biến tri, chủ trương nhận thức để đoạn trừ các dục. [39] Pāli, ibid.,
kāmānaṃ assādo, ko ādīnavo, kiṃ nissaraṇaṃ ? Dục có vị ngọt gì? Nguy hiểm gì? Xuất yếu gì? [40] Hán: thử tức bất luận
此即不論 ; nghĩa không rõ, hoặc Hán đọc nhầm từ nguyên bản. Tham chiếu Pāli, ibid.: ito vā pana sutvā , hay những người đã nghe từ đây. Hình như Hán đọc là: ito vā na sutvā . [41] Ngũ dục. Pāli:
pañca kāmaguṇā , năm dục công đức, năm chất liệu của dục. [42] Pāli, ibid.,
kiñca kāmānaṃ nissaraṇaṃ? yo kāmesu chandarāgavinayo chandarāgappahānaṃ –, sự xuất yếu (thoát ly) của dục là gì? Chế ngự ham muốn, đoạn trừ ham muốn trong các dục vọng. [43] Hán: tự du hý
自遊戲 , hiểu là tự an trú (sống với). [44] Để bản: vô hữu lão ấu
無有老幼 . [45] Xuất yếu
出要 ; đoạn trên nói là xả ly. Cùng nghĩa. Pāli: nisssara . [46] Xem
cht. 38 trên. [47] Hán: thực lạc thống
食樂痛 ; xem cht. 1 8, kinh 1 phẩm 12. [48] Hán: bất thực khổ thống
不食苦痛 ; xem cht. 19 , kinh 1 phẩm 12. [49] Pāli, ibid.,
yo vedanāsu chandarāgavinayo, chandarāgappahānaṃ , chế ngự ham muốn, đoạn trừ ham muốn nơi các thọ. [50] Hán: tam thống
三痛 , ba thọ hay cảm thọ. Cf. D 10 Saṅgīti (R.iii. 216): tisso vedanā– sukhā vedanā, dukkhā vedanā, adukkhamasukhā vedanā . [51] Cf. A III 129 Paṭicchannasuttaṃ (R i. 182):
tīṇimāni paṭicchannāni āvahanti no vivaṭāni , ba sự kiện này được che dấu thì có hiệu quả, chứ không phải hiển lộ. [52] Cf. Pāli, ibid.,
tīṇimāni vivaṭāni virocanti, no paṭicchannāni , ba sự kiện này được hiển lộ thì chiếu sáng, chứ không phải bị che dấu. [53] Cf. A III 47 Saṅkhatalakkhaṇa (R i. 152):
tīṇimāni, saṅkhatassa saṅkhatalakkhaṇāni. katamāni tīṇi? uppādo paññāyati, vayo paññāyati, ṭhitassa aññathattaṃ paññāyati . Cf. Dẫn bởi Câu-xá 5 ( tr. 27a17); Tỳ-bà-sa 38 ( tr. 198a11): 有為之起亦可了知。盡及住異亦可了知, sinh khởi của hữu vi cũng đã được biết; tận và trú dị cũng đã được biết. [54] Hán: trì nhập
持入 . Pāli: dhātu , āyatana . [55] Cf. A III 3 Cintīsuttaṃ (R.i. 102):
tīṇimāni bālassa bālalakkhaṇāni bālanimittāni bālāpadānāni , có ba đặc tính ngu, ba dấu hiệu ngu, ba hành tích ngu của người ngu. [56] Điệu hy, hay trạo cử, vọng động
[57] Cf. A III 127 (R.i. 281).
[58] TNM: thường hành bất tịnh quán.