KINH TĂNG NHẤT A HÀM · Chương 337/388
KINH TĂNG NHẤT A-HÀM (PHẦN 8)
“Sao gọi là sắc uẩn? Đó là thân do bốn đại, là sắc được tạo bởi bốn đại. Đó gọi là sắc uẩn.
“Sao gọi là thọ* uẩn? Đó là cảm thọ khổ, cảm thọ lạc, cảm thọ không khổ không lạc. Đó gọi là thọ uẩn.
“Sao gọi là tưởng uẩn? Đó là sự tụ hội của ba thời. Đó gọi là tưởng uẩn.
“Sao gọi là hành uẩn? Đó là thân hành, khẩu hành, ý hành. Đó gọi là hành uẩn.
“Sao gọi là thức uẩn? Đó là nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân, ý. Đó gọi là thức uẩn.
“Sao gọi là sắc? Sắc bao gồm lạnh cũng là sắc, nóng cũng là sắc, đói cũng là sắc, khát cũng là sắc.
“Sao gọi là thọ? Thọ là giác biết. Giác biết vật gì? Giác biết khổ, giác biết lạc, giác biết không khổ, không lạc. Đó gọi là giác biết.
“Sao gọi là tưởng? Tưởng cũng là biết. Đó là biết xanh, vàng, đỏ, trắng, biết khổ, biết lạc. Đó gọi là biết.
“Sao gọi là hành? Nó tác thành nên gọi nó là hành. Tác thành những gì? Hoặc thành hành vi ác, hoặc thành hành thiện. Cho nên gọi là hành.
“Sao gọi là thức? Thức là phân biệt nhận biết phải hay không phải, cũng nhận biết các vị. Đó gọi là thức.
“Các thiên tử nên biết, có năm thủ uẩn này, là biết có ba đường: ác đạo, thiên đạo và nhân đạo. Năm thủ uẩn này diệt, biết là có đạo Niết-bàn.”
Khi Phật nói pháp này cho các vị trời, có sáu vạn người trên trời được mắt pháp trong sạch.
Sau khi thuyết pháp xong, Thế Tôn từ chỗ ngồi đứng dậy, đến đỉnh núi Tu-di nói kệ này:
Các ngươi hãy siêng học
Nơi Phật, Pháp,Thánh chúng.
Diệt đường đến tử vong,
Như dùng móc dạy voi.
Những ai không biếng nhác
Ở trong Chánh pháp này;
Người ấy dứt sanh tử,
Không có nguồn gốc khổ.
[ 707c01 ] Thế Tôn nói kệ này xong, bèn đi đến con đường giữa. Khi ấy Phạm thiên trên con đường bạc phía bên hữu Như Lai. Thích Đề-hoàn Nhân trên con đường thủy tinh bên trái. Chư thiên chúng ở giữa hư không rải hoa, đốt hương, xướng kỹ nhạc, giúp vui cho Như Lai.
Bấy giờ, Tỳ-kheo-ni Liên Hoa Sắc [138] nghe Như Lai hôm nay sẽ đến cạnh hồ trong nước Tăng-ca-thi ở Diêm-phù-đề. Cô suy nghĩ như vầy: “Chúng bốn bộ, quốc vương, đại thần, nhân dân trong nước không ai là không đến. Nếu ta bằng thường pháp đến thì điều này chẳng thích hợp. Nay ta phải hiện thành hình dung Chuyển luân Thánh vương đến gặp Thế Tôn.”
Tỳ-kheo-ni Liên Hoa Sắc liền ẩn hình, hiện thành Chuyển luân Thánh vương đầy đủ bảy báu, như là bánh xe báu, voi báu, ngựa báu, châu báu, ngọc nữ báu, điển binh báu, kho tàng báu.
Trong lúc đó, Tôn giả Tu-bồ-đề đang vá y tại một mé núi, trong núi Kỳ-xà-quật nơi thành La-duyệt. Tu-bồ-đề nghe Thế Tôn hôm nay về đến châu Diêm-phù-đề, thầm nghĩ, “Chúng bốn bộ không ai là không đến gặp. Nay ta cũng nên đến thăm hỏi, lễ bái Như Lai.” Tôn giả Tu Bồ Đề liền ngưng việc vá y. Rời chỗ ngồi đứng dậy, chân phải vừa chạm đất, tức thì ngài lại nghĩ: ‘Thân hình Như Lai đó, cái gì là làm Thế Tôn, là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý chăng? Người mà ta đến gặp lại là đất, nước, lửa, gió chăng? Hết thảy các pháp đều rỗng không vắng lặng, không tạo, không tác, như những gì Thế Tôn đã nói kệ:
Nếu ai muốn lễ Phật
Và các bậc tối thắng,
Uẩn, xứ, giơi [139] các loại,
Đều phải quán vô thường.
Phật quá khứ xa xưa,
Cho đến Phật tương lai,
Cùng chư Phật hiện tại,
Tất cả đều vô thường.
Nếu ai muốn lễ Phật
Quá khứ và tương lai,
Hoặc ở trong hiện tại,
Phải quán nơi pháp Không.
Nếu ai muốn lễ Phật,
Quá khứ và tương lai,
Hoặc ở trong hiện tại,
Nên xét nơi Vô ngã.
“Trong đây không có ngã, không có mạng, không có con người, không có tạo tác, cũng không hình dung, có dạy, có truyền. Các pháp thảy đều không tịch. Cái gì là ngã? Cái ta là không [ 708a01 ] chủ. Nay ta quy mạng tụ chơn pháp.” Rồi Tôn giả Tu-bồ-đề liền ngồi vá y trở lại.
Lúc ấy, Tỳ-kheo-ni Ưu-bát Hoa Sắc hóa thành Chuyển luân Thánh vương, bảy báu dẫn đường, đi đến chỗ Thế Tôn. Năm vua từ xa trông thấy Chuyển luân Thánh vương đến, vui mừng hớn hở, không tự chế được, tự nói với nhau: “Thật là kỳ diệu hiếm có! Thế gian xuất hiện có hai trân bảo, là Như Lai và Chuyển luân Thánh vương.”
Bấy giờ, Thế Tôn dẫn hàng vạn thiên chúng từ trên đỉnh núi Tu-di xuống đến cạnh hồ nước. Thế Tôn đưa chân dẫm lên đất, ngay khia yấ khiên ba ngàn Đại thiên thế giới này chấn động sáu cách. Chuyển luân Thánh vương hóa hiện, từ từ đi đến chỗ Thế Tôn. Vua các nước nhỏ và nhân dân tất cả đều tránh ra. Khi đã đến gần Thế Tôn, Chuyển luân Thánh vương hóa giả liền hiện nguyên hình là Tỳ-kheo-ni và đảnh lễ sát chân. Năm vị vua thấy vậy, đều than thở, bảo nhau: “Hôm nay chúng ta thật có sự mất mát. Chúng ta đáng ra trước được gặp Như Lai, nhưng nay thì Tỳ-kheo-ni này đã gặp trước.”
Tỳ-kheo-ni đến gặp Thế Tôn, đảnh lễ sát chân, rồi bạch Phật rằng:
“Nay con đảnh lễ đấng Tối thắng! Hôm nay, con được hầu thăm trước tiên. Con là Tỳ-kheo-ni Ưu-bát Hoa Sắc, đệ tử của Như Lai.”
Khi ấy, Thế Tôn nói kệ này:
Nghiệp lành nhờ lễ trước,
Hơn hết, không ai bằng.
Cửa giải thoát Không, Vô [140]
Đó là nghĩa lễ Phật.
Nếu ai muốn lễ Phật,
Tương lai và quá khứ,
Hãy quán pháp Không vô. [141]
Đó là nghĩa lễ Phật.
Khi ấy, năm vua và nhân dân nhiều không thể đếm xuể, đến chỗ Thế Tôn. Mỗi vị đều tự xưng danh hiệu. Con là Ba-tư-nặc vua nước Ca-thi. Con là Ưu-điền vua nước Bạt-sai. Con là Ác Sanh vua của Nhân dân Ngũ đô. [142] Con là Ưu-đà-diên vua nước Nam hải. Con là Tần-bà-sa-la vua nước Ma-kiệt-đà. Lúc ấy, nhân dân trong khoảng mười một na-thuật, [143] cùng chúng bốn bộ và những trưởng giả tối tôn cả thảy là một ngàn hai trăm năm mươi người đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ sát chân, rồi đứng qua một bên.
Bấy giờ, vua Ưu-điền ôm tượng bằng ngưu-đầu chiên-đàn trong tay và nói kệ với Như Lai:
Con có việc muốn hỏi,
[ 708b01 ] Từ bi hộ hết thảy:
Người tạo hình tượng Phật
Được những phước đức gì?
Bấy giờ, Thế Tôn lại dùng kệ đáp:
Đại vương, hãy lắng nghe,
Ta giảng nghĩa ít nhiều.
Người tạo hình tượng Phật,
Nay chỉ nói sơ lược.
Trước nhất, mắt không hư,
Sau có được thiên nhãn.
Phân biệt rõ trắng đen,
Đức tạo hình tượng Phật.
Hình vóc sẽ hoàn hảo
Ý chính, không mê lầm.
Thế lực hơn người thường.
Người tạo hình tượng Phật,
Hẳn không đọa đường ác;
Khi chết sanh lên trời,
Ở đó làm thiên vương:
Phước làm hình tượng Phật.
Phước khác không thể kể.
Phước kia khó nghĩ bàn.
Tiếng tốt vang bốn phương:
Phước tạo hình tượng Phật.
“Lành thay, lành thay! Đại vương làm được nhiều lợi ích cho trời người mông nhờ.”
Lúc ấy, vua Ưu Điền vô cùng sung sướng.
Bấy giờ, Thế Tôn Thế Tôn vì chúng bốn bộ và năm vua nói về diệu luận. Luận về bố thí, luận về trì giới, luận về sanh thiên; dục là tưởng bất tịnh, là hữu lậu, là tai họa lớn, giải thoát là vi diệu. Khi Thế Tôn đã thấy tâm ý chúng bốn bộ đã được khai mở; như pháp mà chư Phật thế tôn thường thuyết, là khổ, tập, tận, đạo, Ngài cũng vì họ mà nói. Bấy giờ ngay trên chỗ ngồi hơn sáu vạn trời người dân, dứt sạch trần cấu, được mắt pháp trong sạch.
Bấy giờ, năm vua bạch Thế Tôn:
“Nơi này là phước tối diệu, là đất thiêng, nên Như Lai mới từ trời Đâu-suất xuống, thuyết pháp tại đây. Nay chúng con muốn kiến lập nơi này khiến vĩnh viễn không còn bị mục nát.”
Thế Tôn bảo:
“Này năm Vua, các ông hãy xây dựng thần tự ở nơi này, đời đời hưởng phước không bao giờ hư hoại.”
Các vua thưa:
“Phải xây dựng thần tự như thế nào?”
Bấy giờ, Thế Tôn duỗi bàn tay phải, từ trong đất xuất hiện chùa Ca-diếp Như Lai. Nhìn năm Vua mà bảo:
“Muốn tạo thần tự, hãy theo pháp này.”
Lúc ấy, năm vua liền khởi xây đại thần tự ở nơi này.
Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Tùy tùng của các Như Lai hằng sa trong quá khứ nhiều ít cũng như hôm nay không khác. Ngay cả tùy tùng của hằng sa chư Phật trong tương lai nhiều [ 708c01 ] ít cũng như hôm nay không khác. Nay Kinh này đặt tên là ‘Du thiên Pháp bổn.’
“Các Tỳ-kheo, hãy học điều này như vậy.”
Chúng bốn bộ và năm vua sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ phụng hành. [144]
[1] Tương đương Pāli, A V 52 Akusalarāsisutta (R. iii. 64).
[2] Bất thiện tụ 不善聚 . Pāli: akusalarāsi .
[3] Ngũ cái 五蓋 : Tham dục cái 貪欲蓋 , sân nhuế cái 瞋恚蓋 , thụy miên cái 睡眠蓋 , điệu hý cái 調戲蓋 , nghi cái 疑蓋 . Pāli, ibid., pañca nīvaraṇā: kāmacchandanīvaraṇaṃ, byāpādanīvaraṇaṃ, thinamiddhanīvaraṇaṃ, uddhaccakukkuccanīvaraṇaṃ, vicikicchānīvaraṇaṃ .
[4] Tham chiếu Pāli, M 130 Devadūta (R. iii. 178). Hán, Trung 12 , kinh 64 Thiên sứ.
[5] Nguyên Hán: Đẳng kiến.
[6] Pāli, ibid., ahampi khomhi jātidhammo, jātiṃ anatīto , ta chịu quy luật của sự sanh, không vượt qua được sự sanh. Ở đ ây, Hán dịch có thể nhảy sót. Diêm vương hỏi về Thiên sứ thứ nhất.
[7] Hán dịch có thể nhảy sót. Cf. Pāli, ibid, và Trung 12 kinh 64: Diêm vương hỏi tội nhân, ‘Ngươi có thấy Thiên sứ thứ hai không?’
[8] Hán: Hình lão chi pháp 形老之法 . Pāli: jāradhamma , quy luật của tuổi già.
[9] Mỗi ngục lớn có 16 ngục nhỏ chung quanh. Xem Trường 19 , kinh Khởi thế, phẩm Địa ngục.
[10] Hán: ngũ chủng tác dịch. Pāli, ibid. pañcavidhabandhanaṃ , ngũ chủng phược, trói năm chỗ: đóng đinh 2 tay, 2 chân, và tim.
[11] Nhiệt hôi địa ngục 熱灰地獄 .
[12] Đao thích địa ngục 刀刺地獄 .
[13] Đại nhiệt hôi địa ngục 大熱灰地獄 .
[14] Đao kiếm địa ngục 刀劍地獄 .
[15] Phất thỉ địa ngục 沸屎地獄 .
[16] Đoạn này mô tả địa ngục có tên là Sáu Xúc xứ, nhưng bản Hán khong dịch rõ hết ý. Xem Trung , kinh 131 (Hàng ma); Tạp (Việt) kinh 212. Pāli: Chaphassāyatanika (M. i. 337) .
[17] Bốn nhiếp sự.
[18] Tham chiếu Pāli, S 8.7 Pavāraṇā (R. i. 190). Hán, Trung 29, kinh 121 Thỉnh thỉnh.
[19] Đông uyển Lộc Mẫu viên 東苑鹿母園 . Pāli: một tòa nhà do bà Visakhā dựng gọi là Migāramātupāsāda (Lộc Tử Mẫu giảng đường), ở Pubbārāma, khu vườn phía đông thành Xá-vệ.
[20] Nhiều phương tiện, đây hiểu là nhiều tinh tấn.
[21] Đa-kỳ-xa 多耆奢 . Pāli: Vaṇgīsa. Trên kia, kinh 3 phẩm 4, âm là Bằng-kỳ-xá.
[22] Xem kinh 3 phẩm 4 trên.
[23] Tham chiếu Pāli, A V 50 Nāradasutta (R.iii. 57)
[24] Na-la-đà 那羅陀 .
[25] Trưởng giả Trúc Lâm 長者竹林 . Xem cht. dưới.
[26] Ba-la-lê quốc 波羅梨國 . Pāli, trú tại Pāṭaliputta, trong già-lam Kukkutārāma.
[27] PāliVương phi Bhaddā.
[28] Văn-trà vương 文茶王 . Pāli, Muṇḍa.
[29] Thiện Niệm 善念 . Pāli: Piyaka, quan Thủ khố (Kosārakkha).
[30] Tham chiếu Pāli, A V 123 Upaṭṭhākasutta (R iii. 143).
[31] Tham chiếu Pāli, A V 124 Dutiya-upaṭṭhākasutta (R iii. 144).
[32] Tham chiếu Pāli, A V 34 Sīhasenāpatisutta (R.iii. 38).
[33] Di hầu lâm 獼猴林 . Các nơi khác thường nói là Di hầu trì. X em Trung, kinh 18 (Sư tử).
[34] Sư Tử Đại tướng 師子大將 . Pāli: Sīhasenapati. Xem Trung, kinh 18 (Sư Tử); A. VIII. 12. Sīha.
[35] Tham chiếu Pāli, A V 37 Bhojanasutta (R.iii. 41).
[36] Tham chiếu Pāli, ibid., khi thí ( dāyaka ) cho bữa ăn, là mang đến cho người nhận ( paṭiggahaka ) năm điều.
[37] Thí mạng 施命 . Pāli: Āyuṃ deti , ban cho tuổi thọ.
[38] Thí biện tài. Pāli: paṭibhānaṃ deti, ban cho sự sáng suốt.
[39] Tham chiếu Pāli, A V 36 Kāladānasutta (R. iii. 41).
[40] Ứng thời thí 應時施 . Pāli: Kāladāna .