KINH TĂNG NHẤT A HÀM · Chương 144/388

KINH TĂNG NHẤT A-HÀM (PHẦN 13)

[26] Tỳ-bà-sa ibid., lực thứ năm: chủng chủng thắng giải trí lực 種 種 勝 解 智 力 . Pāli: sattānaṃ nānādhimuttikataṃ , chí hướng (thắng giải) sai biệt của các chúng sanh.

[27] Tỳ-bà-sa. lực thứ 6: căn thắng liệt trí lực 根勝劣智力 . Pāli: parasattānaṃ parupuggalānaṃ indriyaparopariyattaṃ , biết căn cơ hơn kém của các loại chúng sanh, con người.

[28] Tỳ-bà-sa, thứ ba: tĩnh lự giải thoát đẳng chí phát khởi tạp nhiểm thanh tịnh trí lực 靜 慮 解 脫 等 持 等至發起雜染清淨智力 . Pāli: jhānavimokkha-samādhisamāpattīnaṃ saṃkilesaṃ vodānaṃ vuṭṭhānaṃ , sự xuất khởi thành tịnh, tpạ nhiểm của các sự chứng nhập các thiền, giải thoát, tam-muội. Không có tương đương với bản Hán này.

[29] Tỳ-bà-sa, lực thứ bảy: biến thú hành trí lực 遍趣行智力 . Pāli: sabbatthagāminiṃ paṭipadaṃ , hành tích dẫn đến tất cả các định hướng.

[30] Tỳ-bà-sa, lực thứ tám: túc trụ tùy niệm trí lực 宿住隨念智力 . Trong bản hán này, lực này được keer chúng với biến thú hành trí lực. Pāli: anekavihitaṃ pubbenivāsaṃ anussarati , nhớ lại vô số đời trước.

[31] Tỳ-bà-sa, lực thứ chín: tử sanh trí lực 死生智力 . Pāli: dibbena cakkhunā… satte passati cavamāne upapajjamāne , bằng thiên nhãn, …, thấy chúng sanh đang chết, đang tái sanh…

[32] Tỳ-bà-sa, lực thứ mười: lậu tận trí lực 漏盡智力 . Pāli: āsavānaṃ khayā anāsavaṃ cetovimuttiṃ , lậu tận, vô lậu tâm giải thoát.

[33] So sánh , phẩm 27, kinh số 6. Văn và nghĩa không nhất quán giữa hai đoạn dịch này.

[34] Câu văn này nghi là chép nhầm, dư, nên cho vào ngoặc.

[35] Nguyên Hán: nội pháp 內法 ; Hán dịch sai, hiểu nhầm antarāyikadharma (pháp chướng ngại) thành antaradharma , pháp trung gian hay nội pháp.

[36] Để bản nhảy sót kinh số 5. Kinh này được được bố khuyết ở cuối quyển 42, y các bàn Tống, Ngyên, Minh.

[37] Nguyên Hán: niệm chỉ quán. Có lẽ chỉ tức nhưng chép nhầm thanh chỉ quán. Xem kinh 8 phẩm 2 (niệm hưu tức); kinh 5 phẩm 39.

[38] Pali, A. X. 45. Pavesana

[39] Hán: quóc gia 國家 , nhà của nước, tức nhà của vua. Pali: rājantepura , nội cung hay hậu cung của vua; mười điều tai hại khi đi vào hậu cung của vua.

[40] Hán: quốc gia, xem cht. 39 trên.

[41] Hán: nhập quốc 入國 , nên hiểu là nhập hậu cung.

[42] Để bản nhảy sót.

[43] Pali, A.X. 27. Mahāpañhā 1 (R.v. 48)

[44] Pali: sabbaṃ dhammaṃ abhijānātha, sabbaṃ dhammaṃ abhiññāya viharathā’ti

, các ngươi hãy chứng tri tất cả pháp. Sau khi chứng tri tất cả pháp, các ngươi hay an trú. [45] Pali: eko, āvuso, pañho eko uddeso ekaṃ veyyākaraṇaṃ, dve pañhā dve uddesā dve veyyākaraṇāni, … dasa pañhā dasuddesā dasa veyyākaraṇānī’ti

, một câu hỏi, một tuyên bố, một trả lời, cho đến, mười… [46] Pali: sammā nibbindamāno sammā virajjamāno sammā vimuccamāno sammā pariyantadassāvī sammadatthaṃ abhisamecca diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti

, chân chánh yểm ly, chân chánh ly tham, chân chánh giải thoát, chân chánh quan sát biên tế, chân chánh hiện quán nghĩa lý, ngay trong đời này mà chấm dứt biên tế khổ. [47] Để bản và Tống nhảy sót. Nguyên, Minh bổ khuyết: nhất luận nhất nghĩa nhất diễn , một luận, một nghĩa, một diễn (điều mà Ta đã nói…)

[48] Có thể để bản chép nhầm. Nguyên Minh: “luận hai, nghĩa hai, diễn hai.”

[49] Định nghĩa không thấy trong Pali.

[50] Pali: bốn loại thức ăn ( catūsu āhāresu

) [51] Nguyen-Minh thêm: “Tóm tắt, năm thạnh ấm khổ. Đó gọi là Thánh đế Khổ.”

[52] Hán: 愛本

與欲 [04] 相應. Chính xác nên hiểu là “khái ái đương lai câu hữu với hỷ tham (Pali: taṇhā ponobhavikā nandirāgasahagatā

, nhưng bản Hán có lẽ hiểu ponobhavika , đương lai hữu, là pubbabhavika ?) [53] Pali: năm thủ uẩn ( pañcasu upādānakkhandhesu

). [54] Sáu pháp tôn trọng, xem kinh số 1 phẩm 37. Pali: sáu nội xứ ( chasu ajjhattikesu āyatanesu

). [55] Đây hiểu là tâm thường hòa hiệp như một với các bạn đồng tu.

[56] Pali: sattasu viññāṇaṭṭhitīsu

, bảy thức trú. [57] Chính xác: một bộ phận của chư thiên.

[58] Chính xác: xuất hiện vào thời kiếp sơ.

[59] Hán dịch dư trú xứ thứ tám. Trú xứ của thức chỉ đến Vô sở hữu xứ thiên. Xem Tập dị 17 , mục bảy pháp.

[60] Pali: aṭṭhasu lokadhammesu.

[61] Nguyên hán: lợi suy hủy dự xưng ky khổ lạc 利衰毀譽稱譏苦樂.

[62] Pali: navasu sattāvāsesu

, chín hữu tình cư. [63] Pali: dasasu akusalesu kammapathesu

, mười nghiệp đạo bất thiện. [64] Pali, A.X. 56-57. Saññā (R.v. 105).

[65] Chỉ tử thi mà chim, thú ăn chưa hết.

[66] Chie tử thi bị chim thú ăn.

[67] Chín tưởng đầu thuộc sáu đề mục trong 9 đề mục quán tử thi. Pali: asubhasaññā

(bất tịnh ưởng), maraṇasaññā (tử tưởng), āhāre paṭikūlasaññā (yểm nghịch thực tưởng, ghê tởm thức ăn), sabbaloke anabhiratasaññā (thế gian bất khả lạc tưởng), aniccasaññā (vô thường tưởng), anicce dukkhasaññā (vô thường tức khổ tưởng), dukkhe anattasaññā (khổ tức vô ngã tưởng), pahānasaññā (đoạn tưởng), virāgasaññā (ly tham tưởng), nirodhasaññā (diệt tận tưởng). Cf. Tỳ-bà-sa 166 (tr. 836c23): vô thường tưởng, vô thường khổ tưởng, khổ vô ngã tưởng, tử tưởng, bất tịnh tưởng, yểm thức tưởng, nhất thiết thế gian bất khả lạc tưởng, đoạn tưởng, ly tưởng, diệt tưởng. [68] Tịnh tưởng, xem thân, (và mọi vật), đều là sạch sẽ, đẹp đẽ, đáng ham thích.

Mở trong trình đọc kinh