KINH GIẢI THÂM MẬT · Chương 3/8

PHẨM BA: TÂM THỨC

Lúc bấy giờ đại bồ tát Quảng tuệ thưa Phật: Bạch đức Thế tôn, như Ngài nói Bồ tát khéo biết mật nghĩa (51) tâm ý thức, vậy Bồ tát khéo biết mật nghĩa tâm ý thức là ngang đâu mới được gọi là Bồ tát khéo biết mật nghĩa tâm ý thức? và ngang đâu mới được Ngài qui định vị Bồ tát ấy là Bồ tát khéo biết mật nghĩa tâm ý thức (52) ? Đại bồ tát Quảng tuệ bạch hỏi như vậy rồi, đức Thế tôn dạy ngài: Tốt lắm, Quảng tuệ, ông có thể hỏi Như lai cái thâm nghĩa như vậy. Vậy là ông muốn lợi ích yên vui cho vô lượng chúng sinh. Ông thương tưởng cả thế giới loài người, và tám bộ loại khác, muốn làm cho họ được lợi thật, được yên vui, nên phát ra câu hỏi vừa rồi. Ông hãy nghe kyծ Như lai sẽ nói cho ông về mật nghĩa tâm ý thức.

Lược Giải.-

Phẩm này tiêu đề nói về tâm ý thức, nhưng thực ra nói nhiều hơn về bản thức, cho thấy Nó là cái Tâm siêu việt (đã nói và còn nói đến hết kinh), là cái căn bản của các pháp (sẽ nói trong các phẩm 4 và 5).

Chính Văn.-

(Trước hết), Quảng tuệ, ông nên nhận thức rằng sự sinh tử trong sáu đường, chúng sinh chết ở thế giới nào rồi sinh vào thế giới nào (53) , thì thân thể hoặc sinh trong loài sinh bằng trứng, hoặc sinh trong loài sinh bằng thai, hoặc sinh trong loài sinh bằng ẩm thấp, hoặc sinh trong loài sinh bằng biến hóa. Sự sinh ấy đầu tiên do chủng tử thức vốn đã thành thục nay triển chuyển hóa hợp, tuần tự lớn lên (53B) , với hai sự chấp thọ của thức ấy: một là chấp thọ các sắc căn và sở y của các sắc căn, hai là chấp thọ chủng tử của tướng, danh và phân biệt, loại chủng tử do ngôn từ hý luận mà có (54) . Sinh trong thế giới có hình sắc thì có đủ hai sự chấp thọ vừa nói, còn sinh trong thế giới không hình sắc thì không đủ hai sự chấp thọ ấy (55) .

Thứ nữa, Quảng tuệ, thức ấy cũng tên là a đà na, vì nó theo mà nắm giữ thân thể; cũng tên là a lại da, vì nó chấp thọ mà cùng yên cùng nguy với thân thể; cũng tên là tâm, vì nó do sắc thanh hương vị xúc pháp tích tụ tăng trưởng (56) .

Sau nữa, Quảng tuệ, chính a đà na thức làm nền tảng và xây dựng mà phát sinh sáu thức nhãn nhĩ tyՠthiệt thân ý: do nhãn căn và sắc cảnh làm duyên tố mà phát sinh nhãn thức, đồng thời đồng cảnh có ý thức cùng phát sinh với nhãn thức ấy; do các căn nhĩ tyՠthiệt thân và các cảnh thanh hương vị xúc làm duyên tố mà phát sinh các thức nhĩ tyՠthiệt thân, đồng thời đồng cảnh có ý thức cùng phát sinh với các thức nhĩ tyՠthiệt thân ấy. Như vậy nếu một lúc nào đó chỉ có một thức phát sinh thì lúc đó chỉ có một ý thức cùng phát sinh với một thức ấy, nếu một lúc nào đó có hai đến năm thức phát sinh thì lúc đó cũng chỉ có một ý thức cùng phát sinh với hai đến năm thức ấy. Ví như dòng nước chảy vừa mạnh vừa lớn, nếu có duyên tố nổi một cơn sóng thì một cơn sóng nổi lên, nếu có duyên tố nổi hai đến nhiều cơn sóng thì hai đến nhiều cơn sóng nổi lên, nhưng bản thân dòng nước vẫn chảy mãi, không đứt không hết. Lại như mặt gương tốt và sáng, nếu có duyên tố hiện một hình ảnh thì chỉ một hình ảnh hiện ra, nếu có hai đến nhiều duyên tố hiện hai đến nhiều hình ảnh thì hai đến nhiều hình ảnh hiện ra, nhưng không phải mặt gương biến thành hình ảnh, cũng không có sự hết hiện hình ảnh. Tương tự như vậy, do dòng nước a đà na thức làm nền tảng và xây dựng, nên một lúc nào đó có duyên tố phát sinh của một thức thì lúc đó một thức phát sinh, nếu một lúc nào đó có duyên tố phát sinh của hai đến năm thức thì lúc đó có hai đến năm thức phát sinh (57) .

Lược Giải.-

Đoạn này có 3 đoạn nhỏ, nói bản thức là căn bản của thân thể (và thế giới của thân thể) của sự sống (và đời sống) của các thức (và đối tượng của các thức). Một cách nhìn khác, năng tính (chủng tử) và biểu hiện (hiện hành) của các pháp toàn là bản thức. Cái gọi là thế giới chỉ là sự biểu hiện tương tự (cọng biến) của các nghiệp thức tương tự (cọng nghiệp).

Chính Văn.-

Quảng tuệ, như trên là Bồ tát do cái trí pháp trú (58) làm nền tảng và xây dựng mà khéo biết mật nghĩa tâm ý thức. Thế nhưng Như lai không ngang đây qui định vị Bồ tát ấy là Bồ tát khéo biết tất cả mật nghĩa của tâm ý thức. Quảng tuệ nếu Bồ tát từ bên trong và rành rẽ, đúng như sự thật mà không thấy (59) a đà na và a đà na thức, không thấy a lại da và a lại da thức, không thấy tích tập và tích tập tâm, không thấy nhãn căn sắc cảnh và nhãn thức, cho đến không thấy ý căn pháp cảnh và ý thức, như thế mới gọi là vị Bồ tát khéo biết thắng nghĩa, và ngang đây Như lai qui định vị Bồ tát ấy là Bồ tát khéo biết thắng nghĩa; cũng ngang đây gọi là vị Bồ tát khéo biết tất cả mật nghĩa của tâm ý thức, và cũng ngang đây Như lai qui định vị Bồ tát ấy là Bồ tát khéo biết tất cả mật nghĩa của tâm ý thức.

Lược Giải.-

Đoạn này đáp 2 câu hỏi mà, nói chung, biết tâm thức chưa phải khéo biết, biết tâm thức tự siêu việt (biết chân như thắng nghĩa của tâm thức) mới khéo biết. Để dẫn ra cái biết này, mạt na đã được ẩn lược.

Chính Văn.-

Muốn lặp lại ý nghĩa đã nói, nên lúc bấy giờ đức Thế tôn nói những lời chỉnh cú sau đây.

Thức a đà na

cùng cực vi tế,

tất cả chủng tử

như dòng nước mạnh (59B) .

Như lai không nói

cho kẻ phàm ngu,

sợ họ phân biệt

chấp làm bản ngã.

Lược Giải.-

Chỉnh cú này cho thấy càng rõ cái lý do ẩn lược mạt na, cái ý thức về ngã. Do vậy, nói a lại da là cốt phủ nhận Phạn thể (bản ngã) và thần ngã (tự ngã), nhưng không biết đúng như sự thật thì có thể a lại da cũng sẽ bị coi như bản ngã và tự ngã.

Nói Tính Cách Có Của Các Pháp

Ghi chú:

Ghi Chú (1)

Đức Thế tôn: bản dịch này dùng chữ này để dịch hầu hết những chữ gọi đức Phật. Hầu hết những chữ Ngài tự xưng thì dùng chữ Như lai.

Ghi Chú (1B)

Đại cung điện: coi ghi chú 6 .

Ghi Chú (2)

Nơi: chữ này, ở đây và những chỗ dưới đây, là tham chiếu Ngụy dịch mà dịch.

Ghi Chú (3)

Đại bồ tát: Ở đây chỉ Bồ tát 10 địa.

Ghi Chú (4)

Sống: Chính văn là trì, dịch rõ là giữ cho sống còn.

Ghi Chú (5)

Các loại ma: phiền não ma, uẩn ma, tử ma và thiên ma.

Ghi Chú (6)

Nơi kiến thiết … vô số lượng công đức: Hoa sen chúa, chỗ khác nói là Liên hoa đài tạng, còn đại cung điện là Hoa tạng thế giới, và đó là tha thọ dụng độ của Phật.

Ghi Chú (7)

Tuệ giác cực kỳ trong sạch: câu này là phẩm chất tổng quát trong 21 sự thù thắng của Phật, 20 câu tiếp theo là phẩm chất chi tiết.

Ghi Chú (8)

Bất nhị: nghĩa đen là không hai. Hai là chỉ cho hết thảy khái niệm đối hiện và đối lập lẫn nhau. Nói cái này là cây bút thì có nghĩa tất cả cái khác là phi cây bút ấy: bút và phi bút là 2 khái niệm đối hiện, nói cách khác, khái niệm là biểu hiện sự đối hiện ấy. Khái niệm, như vậy, là gốc gác mà cũng là hiện thân của sự thác loạn. Khái niệm, như vậy, tính chất của nó tự siêu việt lấy nó: đó gọi là bất nhị. Bất nhị ở đây là không hiện hành sinh tử cũng không hiện hành niết bàn.

Ghi Chú (9)

Vô tướng: ở đây là chân như hay vô trú niết bàn.

Ghi Chú (10)

Chỗ đứng của các đức Thế tôn: ở đây là tâm đại bi.

Ghi Chú (11)

Không còn chướng ngại: không còn phiền não chướng và sở tri chướng.

Ghi Chú (12)

Khéo nghĩ… được làm: là cả 3 nghiệp đều tùy thuận tuệ giác.

Ghi Chú (13)

Tuệ giác nhanh… tuệ giác rộng: nhanh là hiểu nhanh pháp và giới của Phật thuyết, chóng là nhanh mà nhiều, sắc là hiểu nhanh và nhiều mà nhỏ và sâu, thoát ra là cái hiểu ấy làm cho thoát khỏi sinh tử, quyết trạch siêu việt là cái hiểu ấy dẫn ra niết bàn, lớn là biện thuyết vô cùng tận, rộng là quán triệt sâu rộng.

Ghi Chú (14)

Tổng cọng có 15 đức tính: 14 đức tính đầu là chi tiết, là quả, 1 đức tính chót là tổng quát, là nhân.

Ghi Chú (15)

Tách rời… phân biệt: ở đây có nghĩa không phân biệt về thì gian tính và siêu thì gian tính ẫ tức là sự tinh tiến vĩ đại.

Ghi Chú (16)

Vượt qua tất cả 5 sự sợ hãi: sợ không có phương tiện để sống, sợ tiếng xấu, sợ chết, sợ đường dữ, sợ oai công chúng hay cá nhân.

Ghi Chú (17)

Giải thâm nghĩa ý: Giải thậm thâm nghĩa mật ý.

Ghi Chú (18)

Mạn thù: Mạn thù thất l﮼/dt>

Ghi Chú (19)

Thắng nghĩa: nói đủ là Thắng nghĩa đế tướng (sắc thái của chân lý tuyệt đối). Thắng nghĩa đế cũng gọi là đệ nhất nghĩa đế (chân lý bậc nhất), chân đế (chân lý chân thật); đối lại là thế tục đế (chân lý phổ thông), cũng gọi là thế đế hay tục đế (chân lý giả thiết). Ở đây, chân lý tuyệt đối chỉ cho pháp tánh (Tâm hay Như).

Ghi Chú (20)

Bất nhị: coi lại ghi chú 8 . Ở đây, bất nhị là pháp tánh phi hữu vi phi vô vi.

Ghi Chú (21)

Nếu là… diễn tả: chấp và nói thì mới nghe là chấp và nói. Nói như vậy chỉ là thêm chấp.

Ghi Chú (22)

Những câu này nói pháp tánh phi hữu vi là hữu vi.

Ghi Chú (23)

Câu này nói pháp tánh phi hữu vi là vô vi.

Ghi Chú (24)

Câu này nói pháp tánh phi hữu vi là hữu vi vô vi.

Ghi Chú (25)

Thánh giả nói là tùy người mà nói, là nói theo chân lý phổ thông, phương tiện dẫn người vào chân lý tuyệt đối.

Ghi Chú (26)

Những câu này nói pháp tánh phi vô vi là vô vi.

Ghi Chú (27)

Câu này nói pháp tánh phi vô vi là hữu vi.

Ghi Chú (28)

Câu này nói pháp tánh phi vô vi là vô vi hữu vi.

Ghi Chú (29)

Loa bối: vỏ ốc quí, bên trong lóng lánh, xưa dùng làm tiền tiêu, hoặc khảm vào đồ cho đẹp.

Ghi Chú (29B)

Nên tưởng… bản thân ấy: bản thân và chi tiết, chính văn là thân và sai biệt (mà đáng lẽ phải là tự tánh và sai biệt), là chỉ cho mỗi hiện tượng và những trừu tượng nơi mỗi hiện tượng ấy.

Ghi Chú (30)

Dị sinh: những kẻ khác với thánh giả.

Ghi Chú (31)

Hành tướng: sự diễn biến; ở đây là đối tượng, ấn tượng (của sự phân biệt).

Ghi Chú (32)

Phân biệt: cựu dịch là vọng tưởng (và có thể là vọng niệm hay niệm). Theo đại luận Du dà mà Vạn 34/331B trích dẫn, phân biệt có 8 thứ và sinh 3 sự. Theo đó thì có thể nói phân biệt bao gồm quan niệm (trong đó có khái niệm) và ý niệm. Ngài Huyền tráng còn nói phân biệt là vô ký dị thục tuệ (cái biết bẩm sinh, bản năng) hoặc chính là tầm tư (tư duy, tư tưởng).

Ghi Chú (33)

Thế nhưng… tuệ giác: câu này gồm pháp và dụ mà nói. Nói rõ thì phải là: thế nhưng có hành tướng của sự phân biệt làm cho tuệ giác bị mê hoặc, như ảo trạng mê hoặc thị giác.

Ghi Chú (34)

Hai pháp y cứ: là nhị biên luận mà nói theo ở đây là hữu vi vô vi.

Ghi Chú (35)

Tầm tư: hay tầm cầu, là sự tầm tứ (tìm xét). Coi lại ghi chú 32 .

Ghi Chú (35B)

Tránh luận: trương ngã kiến ra mà cãi nhau.

Ghi Chú (35C)

Loại bỏ ngũ dục: dịch rõ và đủ là loại bỏ (sự đam mê) sắc thanh hương vị xúc (thích ý).

Ghi Chú (36)

Thấy nghe hay biết: nói chung mọi sự nhận thức của các giác quan.

Ghi Chú (36B)

Tính thế gian: ở đây là biến động và dẫn ra đam mê, phiền lụy.

Ghi Chú (37)

Địa vị Thắng giải hành: là vô số kiếp thứ nhất, gồm 10 tín, 10 trú, 10 hành, 10 hướng và 4 da hành. Danh hiệu địa vị này có 4: nguyện lạc, tín hành, thắng giải hành và ý lạc. Địa vị này khẳng định về chân như được dạy cho, chứ chưa chứng ngộ chân như ấy.

Ghi Chú (38)

Các hành: ở đây chỉ cho các pháp hữu vi; các pháp ấy đặc tính là diễn biến trong thì gian, nên gọi là các hành.

Ghi Chú (39)

Tướng phược: sự kềm chế bởi ảo tượng (tướng phần hữu lậu).

Ghi Chú (40)

Trọng phược: sự kềm chế bởi ảo giác (kiến phần hữu lậu: tham sân vân vân).

Ghi Chú (41)

Cọng tướng của các hành gọi là thắng nghĩa: các hành có tự tướng và cọng tướng (đặc tính riêng và đặc tính chung). Tự tướng ở đây là sắc uẩn là chất ngại cho đến thức uẩn là liễu biệt. Cọng tướng ở đây là chân như vô ngã: chân như ấy là thắng nghĩa.

Ghi Chú (42)

Nếu thắng nghĩa với các hành khác nhau thì… đáng lẽ tạp nhiễm và thanh tịnh cùng lúc dị biệt mà song lập: nhiễm là các hành, tịnh là thắng nghĩa. Nhiễm đang còn thì tịnh chưa hiện, tịnh đã hiện thì nhiễm phải mất. Nói thắng nghĩa với các hành khác nhau thì đáng lẽ nhiễm tịnh cùng lúc có thể cùng tồn tại.

Ghi Chú (43)

Thắng nghĩa các hành: chính văn là hành giới thắng nghĩa. Giới là giới tính mà cũng là thể tính, nên chính văn ấy có nghĩa các hành với thắng nghĩa, cũng có nghĩa thắng nghĩa của các hành.

Ghi Chú (44)

Chúng sinh thì bị tướng phược trọng phược: chúng sinh thì bị kềm chế bởi các hành.

Ghi Chú (45)

Có tăng… của mình: chưa chứng biết thắng nghĩa mà tự cho đã chứng biết.

Ghi Chú (46)

Dò thì thấy đoạn này kể đối tượng của hiện quán hữu sở đắc gồm có: đầu tiên là 5 uẩn, 12 xứ, 12 duyên khởi, rồi 4 thực, 4 đế, 18 giới, sau đó là 37 giác phần: 4 niệm trú, 4 chính đoạn, 4 thần túc, 5 căn, 5 lực, 7 giác chi và 8 thánh đạo.

Ghi Chú (47)

Thanh tịnh sở duyên: đối tượng trong sáng do tuệ giác trong sáng nhận thức. Hiển dương luận 16 nói thắng nghĩa chính là thanh tịnh sở duyên, vì duyên theo đối tượng ấy thì được sự thanh tịnh của Tâm (Vạn 34/356B dẫn).

Ghi Chú (48)

Và chính… tính vị: nghĩa là không phải những sự hiện quán có thủ đắc theo nhị biên mà có thể thẩm cứu tiến chứng chân như bất nhị.

Ghi Chú (49)

Pháp tánh… an trú: pháp tánh và pháp giới đều là biệt danh của chân như. Pháp tánh an lập: chân như là bản thể xác lập. Pháp giới an trú: chân như là thực thể bất biến.

Ghi Chú (50)

Tâm thức: nói đủ là Tâm ý thức tướng (sắc thái của tâm ý thức). Tâm ý thức thường nói có 2 nghĩa: có khi 3 chữ là 1 nghĩa, có khi 3 chữ là 3 nghĩa. Tâm ý thức, 3 chữ ấy cùng một nghĩa thì không cần phải nói. Tâm ý thức, 3 chữ ấy là 3 nghĩa thì tâm là a lại da, ý là mạt na, thức là 6 thức, tổng cọng có 8 thức. Nhưng thực ra 6 thức là nhận thức mà chỉ như những thông tín viên nhận tin và phát tin ở khắp các cảm quan. Còn ý thức rằng đó là nhận thức của mình, tức tự ý thức về tự ngã mà từ đó năng sở hóa tâm vật hoặc tự tha hóa mình người, lại tùy còn hay mất ý thức tự ngã mà thành ra ô nhiễm hay thanh tịnh, thì đó là mạt na. Nhưng căn bản của toàn bộ các thức nói trên, kể cả mọi đối tượng chất cũng như ảnh của các thức ấy, thì đó là a lại da. Nói cách khác, các pháp là biểu hiện của a lại da. A lại da chính là Tâm, tuy là con mà đang làm giặc, tuy đang làm giặc mà vốn là và vẫn là con. Nên cái tiêu đề Tâm ý thức, hay gọi tắt là Tâm thức, thực ra có nghĩa là nói về Tâm và về ý với thức của Tâm, dẫu rằng chính văn ẩn lược mạt na.

Ghi Chú (51)

Khéo biết mật nghĩa: chính văn là bí mật thiện xảo, dịch sát thì phải là khéo léo về bí mật.

Ghi Chú (52)

Hai câu hỏi này phải coi sự trả lời của Phật ở dưới mới hiểu và thấy khác nhau thế nào.

Ghi Chú (53)

Chúng sinh chết ở thế giới nào rồi sinh vào thế giới nào: là nói luân rồi. Nhưng không phải có một linh hồn bỏ chỗ này sinh chỗ khác, chết đời này sinh đời khác. Mười phương thế giới toàn là Tâm, nghiệp báo này hết thì gọi là chết, nghiệp báo khác sinh thì gọi là sinh, tựa như miếng sáp in dấu ấn: dấu ấn kia mất đi thì dấu ấn này nổi lên, thế thôi.

Ghi Chú (53B)

Sự sống ấy … lớn lên: Sinh mạng của mọi loài chúng sinh có 4 giai đoạn gọi là 4 hữu: sinh hữu (sát na kiết sinh đầu tiên) bản hữu (trưởng thành trong thai và sinh ra sống còn một đời) tử hữu (sát na chết hẳn cuối cùng) trung hữu (sự liên tục giữa tử hữu và sinh hữu). Rồi trung hữu lại sinh hữu, luân chuyển vô cùng cho đến địa vị không còn đời sau (La hán) hay sinh chết tự do (Bồ tát). Đầu tiên ở đây là sinh hữu chứ không phải sinh mạng có khởi điểm. Chủng tử thức vốn đã thành thục là chủng tử thức chuyển thành dị thục thức (nghiệp thức). Triển chuyển hóa hợp là hóa hợp với phụ tinh mẫu huyết, và đó là sinh hữu. Tuần tự lớn lên là bản hữu, có 8 thời kỳ: ở thai, ra thai, hài nhi, đồng ấu, thiếu niên, trung niên, trưởng niên và lão mạo.

Ghi Chú (54)

Với hai sự … mà có: Chấp thọ các sắc căn và sở y của các sắc căn là chấp thọ thân thể và thế giới của thân thể. Chấp thọ chủng tử của tướng, danh và phân biệt, loại chủng tử do ngôn từ hý luận mà có, là chấp thọ chủng tử hữu lậu. Tướng danh và phân biệt là tướng phần và kiến phần thuộc giai đoạn hữu lậu. Thường nói các pháp thì chính chữ pháp nghĩa là khái niệm (chứ không có tự tánh); mỗi pháp là một khái niệm, và khái niệm này phân tách mà nói thì là nhận thức của đối tượng và đối tượng của nhận thức, nhưng thật ra 2 phần này là nhận thức hóa đối tượng và đối tượng hóa nhận thức, hình thành lẫn nhau và toàn là nhận thức. Trong đối tượng của nhận thức gồm có đối tượng (tướng) và sự biểu thị của nó (danh), cùng với nhận thức của đối tượng nữa (phân biệt), như vậy, toàn là sự biểu hiện đồng nghĩa với sự hý luận, nên gọi là ngôn từ hý luận.

Ghi Chú (55)

Coi ghi chú 57 .

Ghi Chú (56)

Những danh và nghĩa này cho thấy nên nói bản thức là chủ thể của thức (và của tất cả) hơn nói nó cũng là một thức.

Ghi Chú (57)

Coi lại ghi chú 50 . Như đã nói ở đó, kinh này ẩn lược mạt na; nhưng trong sinh hữu và bản hữu, nói a lại da chấp thọ là nói mọi sự hữu ấy là mọi sự biểu hiện của a lại da, chứ ý thức mọi sự hữu ấy làm tự ngã thì chính là mạt na. Mặt khác, mạt na điều phối 6 thức là điều phối theo ý thức tự ngã của nó, mạt na ý thức a lại da là ý thức càng theo ý thức tự ngã của nó (và đó là trong giai đoạn mê, trong giai đoạn ngộ thì theo ý thức vô ngã của nó), nhưng cả đoạn nhỏ có ghi chú 55 và đoạn nhỏ này đều ẩn lược mạt na. Lý do ẩn lược chính là vì ý thức tự ngã ấy.

Ghi Chú (58)

Trí pháp trú: Hữu bộ nói là cái trí biết nhân (trú) của quả (pháp), Kinh bộ nói là cái trí biết pháp thường trú, Đại thừa nói là cái trí biết sự thiết lập của các pháp môn. Đại thừa nói sát và đúng hơn.

Ghi Chú (59)

Đúng như sự thật mà không thấy: đúng như thắng nghĩa đế mà thấy chứ không như thế tục đế mà thấy, thì không thấy như cái thấy bình thường là thấy gì cũng theo ý tưởng bình thường, mà là thấy chân như thắng nghĩa của các pháp.

Ghi Chú (59B)

Có thể đổi ví dụ mà nói như những phân tử li ti phát ra một cách rất mau chóng nên tạo thành hình ảnh trên màn ảnh, chủng tử hiện hành thành thân tâm và thế giới thì cũng tương tự như vậy.

***

Mở trong trình đọc kinh