KINH ANAN VẤN PHẬT SỰ CÁT HUNG · Chương 3/3 · Phần 6/7
PHẦN HAI: KINH VĂN (phần 6)
CHÁNH VĂN:
Đạo thì bao la trùm che khắp đại địa, kẻ không thấu đạt lý nầy, lại tự làm chướng ngại cho chính mình.
LỜI GIẢI:
Đạo ở đây là chỉ cho chân như, bản tánh chân tâm. Muốn đạt bản tánh chân tâm thể nhập lý đạo thì phải đoạn vọng tâm mê hoặc mới minh tâm kiến tánh, đạt thành tâm lượng bao la. Phật pháp thường nói chân tâm như hư không, phiền não như đám mây ở hư không. Chân tâm bao la không biên giới, không nhiễm trước, nên tâm chư Phật Bồ Tát độ sanh không chướng ngại. Với lòng đại bit trí giác ngộ vô biên, nên các ngài thấy tâm chúng sanh là tâm mình, thân chúng sanh là thân mình, khổ vui của chúng sanh là khổ vui của mình, mình với chúng sanh không hai, nên các ngài tự tại trong đại nguyện độ sanh. Cũng như hư không bao trùm vạn vật, hư không chẳng thấy chật, vạn vật của ngoài hư không. Nên kinh nói các pháp không ngoài tâm. Người dời không hiểu lý nầy nên chấp lấy tiểu tâm phàm phu mà bỏ đại tâm Phật tánh, nên phải sanh tử luân hồi khổ đau kiếp kiếp. Kinh Thủ Lăng Nghiêm nói: “Tánh chân giác thanh tịnh hồn nhiên khắp trùm pháp giới tùy theo nghiệp lực chúng sanh mà nhận biết tâm đó”. Do vọng niệm tà kiến của chúng sanh đắm nhiễm cảnh trần mộng huyễn, nghiệp chuyển xa dần đại thể chân tâm, thấy mình khác Phật, tâm mình khác tâm Phật, nhận giả làm chân, tách rời bản thể Phật tánh bao la thanh thịnh giác ngộ giải thoát. Như bọt nước trong biển cả, như không khí trong bình, như vàng làm thành đủ loại sắc tướng nữ trang rồi danh xưng cũng theo đó có khác, đâu biết mình vốn là đại thể của nước biển cả, mình vốn là đại thể không khí vũ trụ bao la, mình vốn cùng là một loại tinh ròng vàng khối. Thế nên kinh Thủ Lăng Nghiêm nói: “Diệu minh chân tâm như nước trong biển cả, bỏ đại thể nước trong, chỉ nhận thấy một bọt nước mà cho là toàn thể nước biển cả”. Có đáng thương cho chúng sanh quá đổi mê lầm không? Tự bỏ quên chân tâm Phật tánh bao la tự tại, để đuổi bắt chấp chặt phàm tâm tục lụy nhỏ hẹp buộc ràng! Có khác nào đứa con sanh trong nhà giàu sang quyền quý lại bỏ đời sống sang trọng hạnh phúc để theo sự cám dỗ của bạn ác rượu chè hút sách để rồi cam chịu sự đói rách lang thang. Kinh Hoa Nghiêm nói: “Tâm Phật và tâm chúng sanh không sai khác. Mê là chúng sanh, ngộ là Phật”. Chúng ta sanh ra đời không gặp Phật là điều thiếu phước duyên, một nạn trong tám nạn “Phật tiền, Phật hậu”. Nhưng còn may mắn gặp được giáo pháp của Phật, thấy được các bậc chân tu đạo đức, thì phải nên phát tâm học đạo Bồ đề, thọ trì giới pháp, tinh tấn tu tâm sửa tánh làm lành. Tham đắm dục lạc thế gian mà chi, ra đời bằng hai bàn tay trắng, khi từ giả cuộc đời cũng chỉ hai bàn tay trắng mà thôi. Cổ nhơn đã khuyên ta:
Đời sống chẳng đầy trăm
Lòng hằng lo ngàn năm
Thế gian mộng huyễn khổ
Sao chẳng tâm tu hành.
CHÁNH VĂN:
Việc thiện ác do tâm người làm. Họa phước đều do người tạo. Thiện ác phước theo người như bóng theo hình, như vang theo tiếng.
LỜI GIẢI:
Đến đây, đức Phật thuyết giảng rõ ràng, thiện ác do tâm người tạo, họa phước theo sát với người. Tâm tạo nhân, thân chịu quả, quả xúc tác thành nhân, thân tác dụng lại tâm, hình thành nhân quả tương tục, thân tâm tương tác buộc ràng với nhau không chạy trốn đau khỏi. Kinh Hoa Nghiêm, Phật nói: “Đệ tử vốn tạo các ác nghiệp, đều do vô thỉ tham sân si, ừ thân miệng ý mà sanh ra”. Ác nghiệp hay thiện nghiệp đều do thân miệng ý tạo. Muốn được phước báo, mà cứ mãi tạo ác nghiệp thì làm sao tránh được tai ương hoạn nạn? Tham vọng không cùng mà lại than trách đất trời, oán hận tình đời? Qua đoạn kinh trên, ta thấy lòng từ bi của đức Phật vô lượng vô biên, không phước lành nào mà Ngài không giảng nói, không việc tiến bộ lợi ích nào mà Ngài không khuyên nhủ, không cội nguồn ác trược nào mà Ngài không trình bày, không pháp môn tu hành nào mà Ngài không khai thị, thế mà chúng sanh như mù như điếc mãi miết dong ruỗi.
Sáng chạy tây, rồi tối chạy đông
Đời người dong ruỗi tợ như ong
Trăm hoa hút nhụy về làm mật
Rốt cuộc thân tàn một kiếp không.
Không nghe theo lời Phật dạy để tu tĩnh tiến thân trên đường hạnh phúc giác ngộ giải thoát, lại mãi đắm chìm trong dục tình danh lợi thế gian là cố ý phớt lờ đối với hảo ý bi nguyện hóa độ của Phật, phản bội tánh linh tự quy y Phật của mình. Cũng như con không nghe lời cha mẹ khuyên dạy để lo học hành tiến thân lập nghiệp, lại nghe theo bạn ác rượu chè cờ bạc là con bất hiếu ngỗ nghịch. Người dân không biết nghe theo tiếng gọi của non sông, sĩ phu hữu trách theo gương các bậc anh hùng trung thành phục vụ dân tộc xứ sở lại vì quyền lợi riêng tư chạy theo ngoại bang là kẻ phản quốc. Kẻ quên lời Phật tha thiết khuyên dạy là kẻ bất hảo, tự mở cửa vào nẻo luân hồi trầm luân. Con không nghe lời cha mẹ dạy bảo là con bất hiếu, tự mình chiêu mộ bạn ác hư đốn khổ nghèo. Dân không theo gương các bậc anh hùng dân tộc để tận trung phục vụ xứ sở quê hương là người dân bất lương vong bản, lập ác đảng tà thuyết làm đổ nát quê hương gây đau thương dân tộc thì sử sách đời đời ghi đó là kẻ phản quốc phi nhơn. Tận trung hay vong bản, hiếu nghĩa hay phản bộ, tất cả đều do tâm tạo. Tâm nhẹ lợi danh thì được thanh nhàn tự tại có dịp gần thiện tri thức người hiền đức, gặp Phật gặp thánh. Ngược lại thì gặp ác nhơn hoạn nạn tai ương, yêu ma dẫn đường đưa đến đọa lạc. Nên kinh Hoa Nghiêm đã xác định tất cả khổ vui thánh phàm đều do tâm: “Nếu người muốn thấu rõ ba đời tất cả các đức Phật thì nên quán tánh của pháp giới, sẽ thấy rõ tất cả đều do tâm tạo. “Nhược nhơn dục liễu tri, tam thế nhứt thiết Phật, ưng quán pháp giới tánh, nhứt thiết duy tâm tạo”. Nhưng khổ thay, Phật đem trọn cuộc đời hết lời khuyên giảng, kinh điển chỗ nào cũng có, cửa chùa rộng mở khắp chốn cùng nơi, nhưng không mấy người đời bước vào để nghe đạo nhiệm mầu giải thoát, mà cứ đua chen nhau vào chỗ đèn mầu huyền ảo dục lạc trần gian! Phật Tổ đã phải rơi lệ than thở: “Niết bàn hữu lộ vô nhơn đáo. Địa ngục bế môn hữu khách tầm”. Phật pháp nói Bồ Tát sợ nhân, chúng sanh sợ quả.
CHÁNH VĂN:
Người có giới hạnh là có đạo đức ứng hợp với chân tánh tự nhiên, chư thiên hộ trì, sở nguyện không trái ý, cảm động mười phương, đức tánh bằng trời, vun bồi công đức vĩ đại, thánh hiền ngợi khen, khó có thể nghĩ bàn.
LỜI GIẢI:
Đức Phật hết lời khen ngợi người có giới hạnh. Có giới hạnh là công đức sâu rộng lớn như trời biển, đồng thời Phật cũng khuyến khích mọi người nên phát tâm tu trì giới pháp. Học Phật phải nhận rằng phàm chỉ trì giới cho riêng mình là tiểu thừa giới, tiểu thừa tâm. Tự mình thọ trì giới pháp mà còn nghĩ đến làm lợi ích chúng sanh, khuyến khích chúng sanh cùng với mình phát tâm tu tập Phật pháp là đại thừa giới, đại thừa tâm. Người trì giới, đồng thời phát từ bi tâm làm lợi ích chúng sanh tự nhiên cùng với Phật Bồ Tát cảm ứng tương giao, được chư Phật Bồ Tát tùy duyên hiện tướng, tâm nguyện tương ưng cùng đại thể bản tánh Phật chúng sanh thanh tịnh, nên kinh đây gọi là “ứng hợp bản thể chân tánh tự nhiên”.
Lại nữa, Bồ Tát độ sanh tùy duyên hiện tướng, tùy căn cơ nghiệp thức chúng sanh thích hợp thân hình gì thì các ngài hiện tướng “đồng sự, lợi hành” theo Tứ nhiếp pháp mà không trái với bản thể chân tánh tự nhiên. Nếu người học Phật hiểu được nghĩa lý nầy thì chỉ cần tự thân chuyên trì giới luật, tinh tấn làm việc phước đức, chẳng phải cần cầu thần linh tự nhiên cảm ứng chư Phật Bồ Tát Thiên Long Bát Bộ hộ trì, không tâm nguyện nào mà không thành, không đạo hạnh nào mà không viên mãn. Tức là người chuyên trì giới luật với tâm lượng vị tha, thường nghĩ tưởng đến lợi ích của chúng sanh, xả thân hành đạo thì tất nhiên được chư Phật Bồ Tát Thiên Long Bát Bộ hộ niệm, nên việc làm khởi đầu dù gặp phải bất cứ nghịch duyên ma chướng, nhưng sau đó thuận tâm như nguyện. Muốn đạt đến hữu cầu tất ứng, thì tâm phải đồng tâm Phật, miệng nói lời Phật nói, thân làm các hạnh Phật làm, tự hành hóa tha, như thế nhứt định cảm động mười phương pháp giới, tâm hạnh xứng tánh, vô vi vô tác, rạng ngời như nhựt nguyệt, đem nguồn ấm mát cho vạn loại sanh trưởng, cùng với vạn vật dung hợp đồng nhất thể.
Do chánh tâm chuyên trì giới pháp, thành ý tu thiện, lợi ích chúng sanh, từ đó có được công đức tự lợi lợi tha to lớn, cảm đến thành hiền thế gian và xuất thế gian đều tán thán hộ trì bất tận, nên kinh đây nói: “Cảm động mười phương, đức sánh bằng trời, vun bồi công đức vĩ đại, thành hiền ngợi khen, khó có thể nghĩ bàn”. Người tu học Phật chỉ biết năng lực của sự trì giới và công đức hoằng pháp làm thiện chuyển động đến chư Phật Bồ Tát Bát Bộ Thiên Long. Nên năng lực thần thông có, khi nào chính lòng ta thật sự thanh tịnh làm việc công đức chứ không phải chạy tìm bên ngoài nhờ thần linh, hồn tinh quỷ mị giáng điển dựa thế lực người nầy kẻ khác để tu hành phụng sự Phật pháp. Như thế là tà pháp chứ không phải là chánh pháp.
CHÁNH VĂN:
Kẻ trí hiểu sự đạt lý trọn đời không drơi vào đường tà, khéo y như lời Phật dạy thì có thể đạt đạo giải thoát.
LỜI GIẢI:
Trên đây là lời Phật khai thị cuối cùng trong bổn kinh nầy. Phật dạy rằng chỉ có kẻ trí mới thấu rõ thân mạng mình, mới thành tâm thật ý phụng hành lời Phật dạy. Ở đây Phật gọi kẻ trí tức là chỉ cho người trí tuệ rõ sự đạt lý, đạo hạnh khiêm cung. Thấu rõ thân mạng tức là đạt mạng, tức là hiểu rõ y báo chánh báo mà mình đang sống. Nói cách khác là nhận rõ thân thể, tâm trí và hoàn cảnh mình đang sống. Tức là thông đạt lý nhân duyên sanh các pháp, nhân quả báo ứng tự nhiên, mà người đời thường gọi là thiên mạng, và thói quen quan niệm là trời đã định vậy rồi.
“Trọn đời không rơi vào đường tà”. Do rõ sự đạt lý, thông hiểu y báo chánh báo của mình do nghiệp quả nhân duyên chứ không phải thần linh tinh quỷ ban phước giáng họa, nên trọn đời không bao giờ nghi ngờ mê hoặc theo tà thuyết tà thân mê tín dị đoan để phải rơi vao quỷ đạo mê hoặc của hạng tà kiến tà hạnh mù quáng cầu được an lành hạnh phúc hoặc cầu được tiên thiên ân điển ban huệ. Người trí tuệ là người nhân lấy trách nhiệm hiện đời mình đang sống, và y theo lời Phật dạy tu tâm sửa tánh, cố gắng tạo nhân lành thiện để có được quả an lành sáng sủa hiện đời và đời sau, chứ không bao giờ oán trời trách người, hay lười nhác tu dưỡng mà ước mong quả tốt.
“Khéo ý như lời Phật dạy thì được đạt đạo giải thoát. Chữ khéo ở đây tức là sau khi nhận định đạo lý rõ ràng, y theo lời Phật dạy, chọn pháp môn tu hành, thích hợp căn tánh hoàn cảnh của mình, quyết tâm trì tải giữ giới, hằng thuận chúng sanh, tủy hỷ các công đức lành, lý sự vô ngại, sự sự vô ngại, thiết tha tam vô lậu học tinh tấn hành trì giới, định, huệ ngày thêm kiên cố, để xứng tánh tự tại vô ngại với chướng duyên như thuyền lướt sóng, ấy là lái thuyền đời lướt trên sông mê bể khổ xuôi mái về bến giác. Nên kinh đây nói là “khéo y như lời Phật dạy thì dạt đạo giải thoát”. Tức là thành tâm thiết ý y giáo phụng hành vậy.
Nếu người tại gia cũng “khéo y như lời Phật dạy” chuyên tâm tinh tấn hành trì thì cũng chứng được đại đạo bồ đề xuất thế gian, thành Bồ Tát, thành Phật. Xưa nay đã biết bao người y theo lời Phật dạy phát tâm chánh niệm tu hành gặt hái kết quả hiện đời được an lành, khi từ giả cõi đời nầy được sanh về cảnh giới giải thoát. Khi độc xong kinh đây, chúng ta mới thấy người tại gia cũng như xuất gia không có gì trở ngại về phương diện hành đạo, miễn là như lý như pháp, khéo y theo lời Phật dạy thì sẽ có đời sống mỹ mãn hạnh phúc tiến bộ, hiện đời tăng thêm giá trị tôn kính an lạc đời sau sẽ được quả báo thánh thiện.
Tiếp theo dưới đây nói về tôn giả A-Nan sau khi được đức Phật bốn lần khai thị ở bốn đoạn kinh trên, tự mình cảm thấy được phước duyên may mắn gặp Phật nghe pháp thấu hiểu lời Phật giảng truyền cảm nhận được nguồn an lạc vô biên. Tôn giả lại nghĩ đến những chúng sanh thiếu phước duyên không được gặp Phật nghe pháp, khó tránh khỏi mê lầm tà tâm tạo ác nghiệp, tôn giả động lòng thương xót chúng sanh mà cầu thỉnh Phật trụ ở đời, đây là nhờ nghe pháp mà được tâm đắc.
Đoạn năm: A-Nan biết mình có phước duyên gặp Phật, thương xót người đời nhiều nghiệp tội ít lòng tin.
1.- A-Nan biết mình được phước duyên gặp Phật ở đời.
CHÁNH VĂN:
A-Nan nghe Phật thuyết xong, sửa lại y áo chỉnh tề, đầu mặt cúi sát đất bạch Phật: “Tuy nhiên cúi xin đức Thế Tôn, chúng con có phước duyên được gặp đức Như Lai, khắp cho ân đức lớn lao, mong Ngài thương nghĩ đến tất cả chúng sanh, vì họ mà làm ruộng phước, khiến cho họ được thoát khổ”.
LỜI GIẢI:
Đoạn kinh đây cho ta thấy, sau khi tôn giả A-Nan nghe Phật bốn lần khai thị chỉ dạy xong, Ngài sửa y áo chỉnh tề rồi gieo đầu mặt lạy sát đất, lòng nghỉ đến chúng sanh đời sau, nên đem tâm thành khẩn thưa với Phật, để cho chúng sanh được lợi lạc. Sửa y áo chỉnh tề, năm vóc đầu mặt chưn tay thân thể lạy sát đất là biểu lộ cử chỉ và tâm ý rất mực tôn kính cảm tạ lượng từ bi giáo hóa của Phật.
Người đời quan niệm đỉnh đầu là cao quý nhất, kế đến là thân thể. Nên nói thương cha mẹ nơi tâm, thờ cha mẹ trên đầu. Đỉnh đầu là chỗ cao khiết thiêng liêng, chỉ đối với bậc tôn kính nhất mới cúi đầu sát đất lạy. Vậy mà Thường Bất Khinh Bồ Tát gặp bất cứ ai Ngài cũng cúi đầu xá lạy miệng nói: “Xin kính lạy ngài, ngài là vị Phật tương lai”. Làm như vậy, dù bị người dời cho là khùng điên, khinh mắng, rượt đánh, Bồ Tát cũng vẫn làm y như vậy mỗi khi gặp bất cứ ai. Bởi dưới mắt Bồ Tát, tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, đều đáng kính trọng. Ngày nay dù họ có mê muội trong dục vọng làm kiếp chúng sanh, nhưng một kiếp nào đó trong tương lai, họ sẽ tu hành giác ngộ. Đem đầu mặt lạy sát đất ngoài ý nghĩa hết mực tỏ lòng cung kính ra còn có ý nghĩa là tự diệt trừ tâm ngã mạn của mình.
“Tuy nhiên cúi mong đức Thế Tôn chúng con có phước duyên được gặp đức Thế Tôn trong đời”. Câu nầy tôn giả A-Nan biểu lộ lòng tôn kính tuyệt đối tin thọ lời khai thị của đức Phật, không còn có điều gì nghi ngờ. Nhưng ở đây A-Nan mở đầu lời bạch Phật bằng chữ “Tuy nhiên” mang ý nghĩa: Chỉ cho tất cả chúng sanh những người chưa có thiện duyên nghe Phật khai thị, không tin Phật pháp, A-Nan mặc nhiên đại diện thưa Phật thương xót đến họ. A-Nan lạy bạch Phật mở đầu bằng chữ “Tuy nhiên cúi xin đức Thế Tôn…” còn nói lên ý nghĩa: Con và đại chúng trong pháp hội đây nhờ tu bồi phước đức thâm sâu, nên đời nầy mới có cơ duyên gặp Phật nghe pháp. Còn thân phận của các chúng sanh thiếu thiện duyên không gặp Phật thì chắc phải chịu đọa đày trong tăm tối lâu dài khó có ngày gặp đức Như Lai. “Mong Ngài trải lòng từ bi bình đẳng nghĩ thương tất cả chúng sanh đó, khắp vì họ mà làm vô thượng ruộng phước để cho họ có cơ duyên gieo hạt giống Bồ đề”. Bất cứ ai, hễ thành tâm y theo lời Phật dạy mà tu tâm sửa tánh thì nhất định phấ mê khai ngộ, lìa khổ được vui. Đừng tìm đạo ở nơi nào ngoài ta. Đạo tại tâm, Phật tại tâm. Tâm thanh tịnh là đạo, là Phật, là giác ngộ giải thoát. Tâm không thanh tịnh dù có chạy rong tin theo ông kia xưng là Phật sống, bà nọ xưng là Bồ Tát tái thế cũng vô ích chẳng được gì, lắm lúc trở thành kẻ cuồng loạn. Tổ Ấn Quang nói: “A-Di-Đà là phước điền thứ nhứt, niệm Phật vãng sanh là đại phước điền. Kẻ thiện căn lợi trí tin sâu chuyên trì lời Phật dạy, Tổ khuyên chân thật, tuyệt đối muôn đời không hư dối”.
2.- A-Nan xót thương người đời nhiều ác, kém đức tin.
CHÁNH VĂN:
Lời Phật dạy chí chân chí thiết, mà người tin Phật quá ít oi, đời nầy xấu ác nhiều, chúng sanh nguyền rủa lẫn nhau, thật đáng đau lòng lắm vậy! Nếu có tin lời Phật cũng chỉ một hoặc hai thì làm sao hoán cải cõi đời ác trượt nầy, nên mới tồi tệ đến như thế.
LỜI GIẢI:
Đây là lời thương than của tôn giả A-Nan đối với chúng sanh trong đời nầy, nhiều xấu ác kém lòng tin. Lời Phật dạy thống thiết chân thật như trong pháp hội Bát Nhã, đức Phật nói với trưởng lão Tu Bồ Đề rằng: “Lời nói của Như Lai là chân thật ngữ”. Chân là không giả dối, không có hư vọng. Thật là không có mị ngụy. Chân thật ngữ là lời nói đúng như sự thật, như chân lý, hợp với căn cơ, trước sau duy nhất, không mâu thuẫn sai khác. Suốt 49 năm thuyết pháp độ sanh, lời nào lời nấy của Phật nói ra đều hợp chân lý căn cơ, chẳng những khế hợp thời Phật tại thế cách đây gần ba ngàn năm, mà cho đến ngày nay thời đại tối cực văn minh, giáo pháp của Phật vẫn là ngọn đèn soi tỏ cho những phát minh tiến bộ của nhân loại về mọi phương diện liên hệ nhân sanh vũ trụ và hạnh phúc tiến bộ. Thế nên tin theo lời Phật dạy mà hành trì thì nhất định được an vui tiến bộ. Nhưng người đời vô minh vọng tâm loạn tưởng không tin không hành, nên tự tạo cho mình phiền khổ, lại còn gây đau thương đổ vỡ cho người khác. Tôn giả A-Nan thống thiết than: “Mà người tin Phật quá ít oi!”.
Nhưng tại sao đời lại ít người tin giáo pháp của Phật? Đây, chúng ta hãy nghe tôn giả A Nan xót thương người trần thế mà trầm thống thương than: “Đời nầy xấu ác nhiều, chúng sanh nguyền rủa lẫn nhau, thật đáng đau lòng lắm vậy!” Người trong cõi đời phần nhiều tạo mười nghiệp ác do thân miệng ý, nên nguyền rủa nhau, tổn hại nhau, đây là điều đáng thương đáng tội nghiệp của nhân thế. Đã vậy, người đời thích tin giả tin tà, không tin chân thật, nhận giả làm chân, không chịu tin điều chân thật. Đây là hành vi ngu muội của chúng sanh, do ít thiện căn, phước đức mỏng, phiền não sâu dày, nghiệp chướng trầm trọng mà tạo thành. Cho dù họ có gặp chánh pháp và thiện hữu tri thức đi nữa, thì ngay đó họ cũng nẩy sanh tà tâm, theo tà làm quấy, thật đáng thương, đáng tiếc lắm! Nên kinh đây nói: “Nếu có tin lời Phật cũng chỉ một hai mà thôi”. Đây là chỉ số lượng chúng sanh chân chánh tin lời Phật dốc lòng thực hành quá ít, vạn người chỉ được một hai mà thôi. Điều nầy chính như ngài Tu Bồ Đề trong pháp hội Bát Nhã cũng đã thưa với Phật: “Bạch đức Thế Tôn, có rất nhiều chúng sanh được nghe những lời đức Phật giảng nói như thế rồi, họ có sanh lòng chân thật tin không?” Phật bảo ngài Tu Bồ Đề rằng: “Ông chớ nói như thế. Sau khi Như Lai dịet độ năm trăm năm sau, có người trì giới tu hành, đối với lời dạy của ta mà hay sanh tín tâm, điều nầy là thật”. Thời đại của chúng ta đây cũng thuộc về năm trăm năm sau Phật diệt độ, người chuyên tâm chánh tín trì giới tu hành, trong chuyên cầu tam vô lậu học giới định huệ, ngoài tu thập thiện, lục độ cũng có, nhưng con số thật hiếm hoi. Họ có tin Phật đọc kinh sách. Nhưng phần nhiều đọc để thỏa trí óc tìm hiểu rồi lý luận, chứ tâm tánh không thấm nhuần lời Phật dạy. Nghĩa là trí có tăng trưởng mà tâm tánh vẫn phàm thường. Nên đối với những người chân tâm chánh hạnh, Phật nói: “Nên biết người nầy, không phải chỉ đời nay hay tin lời Phật nói, mà đối ở một vị Phật đều trồng thiện căn, cho đến ở vô lượng ngàn vạn Phật cũng đã trồng thiện căn, nghe kinh điển Phật, khởi niệm thanh tịnh tín, được vô lượng phước đức”. Nghĩa là Phật diệt độ năm trăm về sau, như thời đại chúng ta đang sống đây, vẫn có người thanh tịnh tín tâm trì giới tu phước đức, tuy số lượng ít ỏi, nhưng vẫn có, thì biết hạng người nầy đã nhiều đời gặp Phật, nghe thấy kinh điển giáo lý của chư Phật.
Số lượng chân tâm chánh tín tu hành ít oi, trong lúc đó các loại trùng mối cỏ gai trong Phật pháp lại nhiều, tránh sao khỏi khuấy nhiễu sư tử kiên thệ, hệ hại vườn hoa đạo pháp. Trong Phật pháp còn phải sư tử trùng, còn có gai nhiễu hại nhan nhãn, huống hồ là thế gian dãy đầy ác trược, đạo đức ngày một suy đồi, luân lý bại hoại? Thế nên tôn giả A-Nan thương than cho phong hóa nhân gian suy tàn băng hoại: “Thế gian ác trược như vậy bảo sao mà không tồi tệ đến thế!”.
3.- A- Nan thương xót chúng sanh mà cầu Phật trụ lâu ở đời.
CHÁNH VĂN:
Sau khi Phật diệt độ, kinh pháp tuy còn mà không có người tin, rồi dần dần suy tàn tán diệt! Than ôi! Đau lòng lắm thay! Sẽ phải nương cậy vào đâu, cúi xin đức Thế Tôn vì thương xót chúng sanh mê tối lầm lạc, chưa nên vào Niết bàn.
LỜI GIẢI:
Đây là lời nói tôn giả A-Nan trầm thống thốt lên từ cõi lòng thương xót chúng sanh dày đặc vô minh mê chấp tham dục tạo thành khổ nạn, cầu xin Phật lưu trụ ở đời lâu thêm để giáo hóa cứu độ quần mê. Đức Phật ra đời là ứng hóa thân rồi thị hiện tịch diệt, còn pháp thân thường trú thì bất biến khắp pháp giới. A-Nan lo ngại sau khi Phật tịch diệt Niết bàn rồi, kinh điển mang chứa phương pháp tu hành vẫn còn trên thế gian này, nhưng e sợ không có người chân tâm chánh niệm tin thọ hành trì, như thế thì chánh pháp của Phật sẽ từ từ bị suy vi đến chỗ tuyệt diệt.
Căn cứ pháp vận Phật pháp, thì một ngàn năm sau Phật Niết bàn, gọi là thời kỳ chánh pháp, người tin Phật chánh tâm, chánh tín, chánh hạnh thọ trì giới pháp còn nhiều, tu chứng cũng nhiều. Đến hai ngàn năm sau Phật Niết bàn thì gọi là thời kỳ tượng pháp, cách Phật xa dần, kinh điển lưu truyền pha lộn sai lầm dần dần nhiều, nhưng vẫn còn không tí người tu hành thiền định, an lạc trong thiền định. Đến hai ngàn năm sau Phật Niết bàn gọi là thời kỳ mạt pháp, cách Phật lâu xa, người tu học dần dần ra ngoài chánh pháp, không như chánh pháp, chỉ thích luận bàn mưu toan danh lợi, nên số lượng chứng đắc chẳng được là bao gọi là phàm vượt thánh, ta đa chánh thiểu. Lại còn có nạn quyến thuộc của ma vương giả dạng đệ tử Phật tu hành tự xưng chứng thánh, mê hoặc lòng người, tạo thành lớp người loạn tâm mê tín ùn ùn a dua tin theo, tưởng đó là Phật thánh hiện thân giáng thế. Điều hiển nhiên và thạnh hành trong thời mạt pháp là pháp môn tu thiền, khó phân biệt được đâu là thiền Phật thiền ma. Chánh tà lẫn lộn khiến cho người tu dễ nhầm lẫn đưa đến tình trạng cuồng tâm tán trí mà nhà thiền gọi là tẩu hỏa nhập ma. Nhưng may thay còn pháp môn Tịnh độ, phương pháp niệm danh hiệu Phật A Di Đà cầu vãng sanh Cực lạc là cái phao duy nhất để cứu người trầm luân trong thời mạt pháp, nên số người tu Tịnh độ không phải là ít và số người vãng sanh không phải là hiếm.
Quán nhìn toàn suốt pháp vận và thế vận thì đích thực như lời tôn giả A Nan đã tiên tri: “Từ từ suy tàn tán diệt”. Quả thật chúng ta ngày càng thấy rõ ràng, tà sư ma đạo người đời đua chen nhào vô với lòng tin mạnh mẽ tạo thành phong trào, trong lúc chân sư chánh dạo thì người đời lại ít thích ít tin. Tôn giả A-Nan than: “Than ôi! Thật đau xót lắm thay!”. Trên là đau xót Phật pháp suy tàn, giáo hóa không người tin theo thực hành, dưới là đau lòng thấy chúng sanh mê vọng trong lợi danh giả huyễn, đua đuổi theo tà sư tà pháp tự tạo khổ, không có cách nào cứu độ được. Phật pháp là ánh sáng dẫn đạo hạnh phúc cho nhơn loại, mà nhơn loại không tin, Phật pháp suy vi thì chúng sanh ngu muội khổ nạn, từ đây về sau còn biết nương tựa vào đâu để được an lành hạnh phúc?
Phật là con mắt của thế gian, là ruộng phước điền của chúng sanh, bậc đạo sư của muôn loài, A-Nan thỉnh Phật ở lâu trong đời làm nơi nương tựa cho chúng sanh, giáo hóa để cho chúng sanh phá mê khai ngộ, lìa khổ được vui, cái vui Niết bàn tịch tĩnh viên mãn thanh tịnh. Văn trường hàng của kinh đến đây là kết thúc.
Tiếp theo sau đây tôn giả A-Nan nói hai mươi tám bài kệ. Trước khi giảng hai mươi tám bài kệ nầy, tưởng cũng nên lược nói kinh Phật gồm có mươi hai thể loại mà thuật ngữ thường gọi là mười hai phần giáo hay mười hai bộ kinh. Nếu đứng về thể tài quy nạp mà nói thì kinh Phật không ngoài ba thể loại trường hàng, kệ tụng và mật chú.
1- Trường hàng thuộc về tán văn, phát huy nghĩa lý tận trí châu khắp viên mãn.
2. Kệ tụng thuộc thể thi ca, nhưng không chú trọng luật tắc hợp vận bình trắc. Kệ tụng có nhiều thể hoặc ba chữ, bốn chữ, năm chữ, sáu chữ, bảy chữ, chín chữ, tuy không luật tắc nghiêm khắc như thi ca, nhưng loại câu ba chữ, bốn chữ, năm chữ v.v… cứ bốn câu là một bài kệ, có thể hòa khúc hợp ca, nhằm mục đích tóm tắc tinh nghĩa kinh trường hàng để hành giả dễ tụng dễ nhớ dễ thuộc, dễ thâm nhập lý kinh từ cạn vào sâu, tiềm tàng công năng tự nhiên hoán cải tam nghiệp của hành giả trên đường thánh thiện. Kinh nầy là thể loại ngũ ngôn, tức là loại câu năm chữ.
3- Mật chú. Kinh đây tuy không có mật chú, nhưng thường là các chú Đại Bi, Vãng Sanh, Lục Tự đại minh chân ngôn v.vv… người Phật tử ai cũng biết. Đại để mà nói thì mật chú bảo tồn cổ âm, ngữ âm của Phật thánh còn mang tên các thiện thần trong pháp giới, nên ngữ âm của mật chú phần nhiều hàm chứa ngôn ngữ của lục đạo chúng sanh rất nhiều nghĩa lý. Do vậy mật chú thường để nguyên âm không dịch nghĩa, ai nấy đều quen, mặc nhiên tiếp thọ, thành tâm tụng niệm đều được linh nghiệm lợi ích. Mật chú vì không dịch nghĩa, để nguyên âm tụng đọc, mặc nhiên tín thọ, hành giả cảm nhận thần lực uy linh của mật chú, vì thế nên cũng gọi mật chú là thần chú, là chân ngôn. Chẳng hạn như Lục tự đại minh chân ngôn “Án ma ni bát mi hồng”. Các cổ đức đại sư đều giải thích đại ý rằng:
Án, nghĩa là thân, là pháp thân trùm khắp pháp giới.
Ma ni, nghĩa là liên hoa thanh khiết
Bát mi, nghĩa là bảo trì, giữ gìn
Hồng, nghĩa là tâm ý, chân tánh Phật tâm. Tổng hợp toàn mật chú “Án ma ni bát mi hồng” có nghĩa là bảo trì ba nghiệp thân khẩu ý thanh khiết như liên hoa, như pháp thân, như chân tánh Phật tâm. An ma ni bát mi hồng thể nhập cùng chân tánh Phật tâm pháp thân làm một thể. Nên ngôn ngữ mật chú đầy đủ linh diệu ý nghĩa viên mãn chí chân chí thiện.
Đoạn sáu: Thấy mình có phước duyên, lại thương xót chúng sanh tội nhiều phước mỏng lòng tin yếu kém. Tôn giả A Nan cảm kích nên lời thi kệ để tóm lược lời Phật dạy giảng nói để đại chúng dễ nhớ, đồng thời cũng khuyến pháp hội phát tâm Bồ đề.
1- Thỉnh Phật trụ ở đời.
CHÁNH VĂN:
A-Nan nhân đây mà nói kệ rằng.
LỜI GIẢI:
“Nhân đây” có nghĩa là tôn giả A-Nan cảm thấy mình được phước duyên gặp Phật nghe pháp tín thọ tu hành, đồng thời nghĩ đến những chúng sanh hiện đời và đời sau khó gặp được Phật, nên kính xin Phật trụ lâu ở đời để cho thế nhơn thấm nhuần ơn pháp nhủ, có đủ nghị lực phát tâm tu hành. Đồng thời tôn giả cũng làm hai mươi tám bài thi kệ khuyến hóa người đời. Hai mươi tám bài kệ có thể chia làm bảy đoạn:
CHÁNH VĂN:
1/ Phật hộ trì ba cõi
Ân đức khắp chúng sanh
Nguyện vì tất cả chúng
Nên chưa thể Niết bàn.
*
2/ Người gặp chánh pháp ít
Mê muội không rõ chân
Đáng thương kẻ bất thức
Tội chướng sâu như thế
*
3/ Có phước gặp Phật pháp
Vạn triệu chỉ một hai
Kinh pháp tiêu tán dần
Biết phải nương vào đâu.
LỜI GIẢI:
Ba bài kệ trên đây thuộc đoạn một. Đại ý A-Nan cầu thỉnh Phật ở đời thời gian lâu dài hơn để cho chúng sanh được khai thị mở mắt vô minh, thoát vòng khổ lụy.
Bài kệ đầu tôn giả A Nan ca ngợi ân đức của Phật. Phật là bậc đạo sư ba cõi, là cha lành của muôn loài, từ bi hộ trì tất cả chúng sanh, là nơi nương tựa của chúng sanh trong chín cõi, lục đạo tam thừa, chúng sanh từ Phật pháp mà thoát khỏi luân hồi sanh tử. Rồi A-Nan cầu thỉnh Phật vì thương tất cả chúng sanh, chưa nên vào Niết bàn.
Bài kệ thứ hai A-Nan thương trách chúng sanh sao quá mãi mê dục lạc giả tạm thế gian, như kẻ đui mù không phân biệt đâu là chân giả chánh tà. Thâït đáng thương cho kẻ vô ý thức tham đắm dục lạc trần gian mà mắc phải tội lỗi sâu nặng như thế. Do tội lỗi sâu nặng buộc ràng nên khó được cơ duyên nghe chánh pháp, gặp Phật, gặp minh sư. Kinh Thủ Lăng Nghiêm quyển sáu nói: “Vào thời mạt kiếp cách Phật lâu xa, tà sư thuyết pháp nhiều như cát sông Hằng. Cũng kinh Thủ Lăng Nghiêm quyển chín nói: “Vào thời mạt pháp trong giáo pháp của ta, loài ma trà trộn xuất gia tu đạo, khiến cho kẻ chân chánh tu hành cũng bị (thế nhơn nhầm lẫn) xem là quyến thuộc của ma”. Qua đoạn kinh trên đây chính là lời Phật huyền ký cho chúng ta thấy rõ hiện nay lắm lẻ xưng là đệ tử Phật mà hành vi ngôn ngữ đời sống không có gì thể hiện là Phật tử cả, ngoài chiếc áo và hình thức tự xưng ra. Để khỏi rơi vào vòng tà sư mê hoặc, bạn ác dẫn dụ thì cần nên phát nguyện qui y Tam Bảo, thọ trì giới luật, chuyên tâm niệm Phật, cầu Phật lực hộ trì, thành tâm nhất chí niệm danh hiệu Phật A Di Đà cầu sanh Tịnh độ. Có như thế mới dứt được nghiệp duyên, thoát ly xiềng xích của tà sư tà pháp đoạn trừ vọng tâm ngũ dục ma chướng.
Bài kệ thứ ba nói người chân chánh gặp được Phật pháp số lượng thật quá ít oi, vạn triệu người mơi có được một hai. Thảo nào cổ đức đã chẳng nói “bá thiên vạn kiếp nan tao ngộ” để nhắc nhở trước mỗi lần tụng kinh. Chánh pháp ít người gặp, ít người tin theo, nên ít người tu học hoằng truyền, do vậy mà Phật pháp từ từ suy đồi. Khổng tử nói: “Nhơn năng hoằng đạo, phi đạo hoằng nhơn”. Người hoằng dương phát triển đạo chớ chẳng phải đạo hoằng truyền người. Nên người gặp được Phật pháp phải biết người đó tự đã trồng thiện căn từ nhiều đời trước. Với ý nghĩa nầy nên A-Nan nói: “Có phước gặp Phật pháp vạn triệu chỉ một hai”. Phật nói: “Thân người khó được, Phật pháp khó nghe”. Nay chúng ta được thân người lại gặp Phật pháp mà không phát tâm tu tập thì chẳng khác nào con rùa mù ở biển cả ngàn năm nổi lên mặt nước một lần may gặp được bọng cây mà không chịu chui vào nằm nghỉ ngơi chờ dịp lên bờ rong chơi dưới ánh sáng mặt trời. Người không chịu tiếp nhận Phật pháp để trang bị cho bản thân được an lạc thì chẳng khác nào kẻ mù ăn mày được người thương nhận đem về uuôi chữa sáng mắt cho ăn học, nhưng từ chối lòng thương cứu giúp. Thật chẳng đáng thương tiếc làm sao?
Thế sự khó nhẫn, chúng sanh cang cường khó điều phục, khó hóa độ. Là đệ tử Phật phải cố gắng tối đa vận dụng năng lực tu hạnh nhẫn nhục khiêm cung, nguyện nhân lấy cái khổ người đời không thích là làm. Là đệ tử Phật xuất gia cũng như tại gia phải luôn luôn nhớ mình là đệ tử Phật, nội tại chuyên tâm trì giới, cố gắng tu học, khắc phục chướng duyên, ngoại tại phát triển tâm nguyện hoằng pháp lợi sanh, hộ trì chánh pháp, mở lượng giúp đời. Phải nuôi dưỡng tâm nguyện thanh tịnh lợi tha mới chân thật là đệ tử Phật.
2- Nghi hoặc hủy báng Tam Bảo thì tội nặng.
CHÁNH VĂN:
4/ Ân Phật quá lớn lao
Tội do chúng sanh tạo
Trống pháp chấn tam giới
Thế sao không được nghe?
*
5/ Đời trược nhiều kẻ ác
Vẫn tự đọa điên đảo
Chê trách hủy báng Phật
Tà mị hủy chánh chân.
*
6/ Không tin đời có Phật
Nói Phật chẳng đại đạo
Người này chẳng phải người
Tự trồng các gốc tội.
LỜI GIẢI:
Ba bài kệ trên đây thuộc đoạn hai. Đại ý ân Phật đối vối chúng sanh thật quá lớn lao, trống pháp âm vang dội khắp cõi tam thiên đại thiên thế giới, vậy mà chúng sanh trong đời ngũ trược cũng vẫn chưa cảnh tỉnh để hồi tâm học đạo, lại còn mang tâm hoài nghi cho là không có Phật trong đời, còn nặng lời khinh chê bai hủy báng Phật pháp, đã mê lầm tội lỗi lại tiếp tục tạo thêm tội lỗi mê lầm.
Bài kệ thứ tư nói về ân đức Phật. Đức Phật dâng hiến trọn đời cho công cuộc hoằng pháp lợi sanh. Nhưng rất tiếc chúng sanh nghiệp chướng sâu dày mê tâm chấp trước không chịu nghe lời Phật dạy, chạy theo danh lợi, đắm theo dục vọng tự trói buộc mình, tự làm ngăn cách giữa mình với Phật thêm xa. Như kinh Thủ Lăng Nghiêm nói: “Nhận bọt nước cho là nước toàn biển cả”, tức là nhận vọng tưởng cho là chân tâm. Ba đời mười phương các đức Phật chư vị Bồ Tát lúc nào cũng thuyết pháp, tiếng trống pháp rền vang khắp ba cõi tam thiên đại thiên thế giới, vậy mà chúng sanh nghiệp chướng nặng nề không nghe. Chẳng khác nào kẻ điếc không nghe tiếng đàn rồi cho đàn không tiếng. Nhưng nước ngàn sông đều ảnh hiện bóng trăng, chỉ có nước sông sóng động đục ngầu mới không tiếp nhận được ánh trăng hiện vào. Tâm thanh tịnh thì nghe hiểu được pháp âm của Phật Bồ Tát. Tâm loạn động thì không nghe thấy. Đời nhà Tùy bên Tàu có Thiên Thai Trí Giả Đại sư chuyên tâm niệm Phật đến chỗ nhất tâm bất loạn thể đạt cảnh giới thanh tịnh, chính Ngài đích thực một lần thấy đức Phật và đại chúng trên pháp hội Linh Sơn vẫn còn câu hội.
Bài kệ thứ năm nói chúng sanh cam chịu đọa lạc do vì tạo tội hủy báng Phật pháp. Đời trược tức là cõi đời chúng ta đang sống đây thường gọi là cõi Ta Bà ác thế ngũ trược. Ta bà có nghĩa là kham nhẫn, tức là sự việc và hoàn cảnh không như ý muốn của chúng sanh. Ác thế là cõi đời xấu ác bất hạnh nhiều hơn tốt đẹp lành thiện. Ngũ trược là năm điều không được chắc chắn thanh tịnh an vui, phần nhiều tạo mười nghiệp ác. Bởi do chúng sanh tự tạo ác nghiệp rồi nghiệp dẫn đọa lạc điên đảo. Tục ngữ có câu: “Người hướng đến chỗ cao, nước chảy về chỗ thấp. vật cùng loài quần tụ, người hợp quần phân ly”. Lòng dục làm tâm tối, lợi danh làm trí mờ, tâm thức huân tập chủng tử ác, nên gặp phải ác duyên liền bộc phát mê loạn, như nước xuống dốc xuôi dòng càng chảy càng nhanh càng sâu. Nhưng kẻ ở nhà Phật, ăn cơm Phật, mặc áo Phật, tự xưng là đệ tử Phật mà hành nghi tâm hạnh không giống Phật, lại dua nịnh với kẻ quyền quý, mưu đồ tranh danh đoạt lợi, kết bè lập phái, phá trai phạm giới ngay chốn già lam, lấy đạo tạo đời, đó là những kẻ hình người tâm ma trà trộn trong Phật pháp, chê hủy báng người chân tâm chánh niệm nghiêm trì giới pháp làm cho thế nhân hoài nghi khi chê Phật pháp, khiến cho người thật tâm cầu đạo chẳng biết đâu để nương tựa, rồi từ đó thối thất tâm Bồ đề. Đây chính là quyến thuộc ma vương ngụy hình đệ tử Phật mưu đồ phá Phật pháp sớm tiêu diệt, nên tôn giả A-Nan nói: “Chê trách hủy báng Phật, tà mị hủy chánh pháp”. Cho dù vậy, chúng cũng như mây mù giông tố rộn ràng nhứt thời đâu có thể lâu dài che lấp ánh sáng mặt trời Phật pháp được.
Bài kệ thứ sáu nói kẻ tà kiến không tin có Phật ở đời. Phật là bậc đại giác ngộ, đại trí huệ, đại giải thoát, mà kẻ tà kiến lại cho Phật không phải là đại đạo. Khổng Tử nói: “Biết nói là biết, không biết nói là không là không biết thì mới là người thật sự biết”. Kẻ không biết Phật pháp, không nghiên cứu tu tập mà cuồng tưởng vọng ngôn cho là không có Phật ở đời, Phật không phải là bậc đại giác ngộ, thì rõ là đồ đệ của ma quân ngoại đạo. Lục tổ Huệ Năng khai thị cho Pháp Đạt Thiền sư rằng: “Phật cũng là giác ngộ, khai thị cho người đời ngộ nhập tri kiến của Phật. Hễ ai được nghe khai thị thì được ngộ nhập thể giác tri kiến, tức là bổn lai chân tánh hiển bày. Ông hãy cảm thận chớ nên giải thích sai lầm ý nghĩa kinh điển, lấy sự khai thị ngộ nhập của đạo khác mà tự cho đó là tri kiến của Phật, ấy là bọn người không biết biện biệt. Nếu đem giáo lý ngoại đạo so sánh giải thích, như thế chính là hủy báng Phật. Nếu chúng sanh có đủ tri kiến thì Phật cần gì phải khai thị? Ông nay tin rằng, tri kiến Phật chính tại tâm ông chứ không phải nơi Phật nào khác”.
Do đây, ta có thể biết Phật pháp đích thực là tự tánh chánh pháp, chân pháp, đại pháp rõ ràng như thế nào lại không tin? Kẻ không tin Phật pháp, tuy hình thức nội tâm mê muội tà ngụy đã mất căn bản nhơn cách. Phật pháp là thể hiện ánh sáng chân lý đạo đức mà họ không tin tưởng, không tiếp nhận, điều này mặc nhiên nói lên tâm họ không có ánh sáng chân lý đạo đức. Như học trò không tiếp nhận lời thầy giáo, không vào lớp học, đọc sách bông lung, thì chứng tỏ không còn tư cách học trò, con đường tối mò hiện ra trước mắt, ấy là kẻ hạ cấp hay triết gia khùng. Vô sư trí cũng như Thái tử Tất Đạt Đa cũng phải khởi đầu bằng lộ trình bái sư thọ giáo, khai trí bằng học tập. Nhơn cách của nhà Nho là ngũ thường: Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Nhơn cách trong Phật pháp là: Ngũ giới, Thập thiện. Bỏ ngũ thường, không ngũ giới mà tự cho mình có nhơn cách, có tri thức đạo đức, đích thực đó là kẻ cuồng vọng tà kiến, tâm niệm hành vi của họ tạo nên bất hạnh cho gia đình, gây ra tai họa cho làng nước. Đấy là nguồn gốc của trọng tội. Vậy thì, con người tạo tội ác dẫn đến làng nước không thanh bình. Thế gian không an lạc là do con người không biết tôn sư trọng đạo, không tin Phật, không có nhơn cách. Hiện đời lo nghĩ tạo các việc bất an, khi thân tàn tâm loạn chôn thân vào lòng đất là lúc bắt đầu cuộc hành trình đi sâu trong ba đường địa ngục ngạ quỷ súc sanh.
3- Tội nào thì quả nấy
CHÁNH VĂN:
7/ Mạng chung đọa đường ác
Đao kiếm chẻ thân mình
Ác quỷ giết nuốt ăn
Ném vào trong dầu sôi.
*
8/ Dâm đảng ôm trụ đồng
Lửa dữ bừng thiêu đốt
Phỉ báng người thanh cao
Kềm sắt kẹp kéo lưỡi
*
9/ Say sưa không lễ tiết
Mê hoặc mất nhơn cách
Chết đọa vào địa ngục
Đồng sôi rót vào miệng.
*
10/ Gặp phải các ách nạn
Thống khổ không thể nói
Nếu được sanh làm người
Kiếp nghèo đói hạ tiện.
LỜI GIẢI:
Bốn bài kệ trên đây thuộc về đoạn ba: Kệ nầy nói người tạo trong tội thì nhất định đọa vào địa ngục vô gián chứ không cách nào thoát khỏi. Như tội ngũ nghịch, tội giết người, giết loài vật thì sẽ nhận lấy quả báo gươm đao, nước đồng sôi, gường sắt nóng, trụ đồng nung đỏ v.v… ác quỷ dạ xoa, đầu trâu mặt ngựa đâm chém cưa xẻ đúng những thứ hình phạt kinh khiếp đớn đau. Sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, mê rượu là năm điều căn bản của nhân đạo. Bốn giới trước gọi là tánh tội, tức là bản chất phàm phu chúng sanh vốn sẵn có. Còn giới rượu gọi là giá tội, tức là hoàn cảnh huân tập mà có. Nên giá có nghĩa là ngăn ngừa để huân tập. Tuy là do huân tập nhưng một khi thành tập khí phạm rồi thì phạm luôn bốn giới sát, trộm, dâm, vọng, nên cũng thuộc trọng giới. Năm giới nầy là căn bản để hoàn thành nhơn đạo, từ đó tiến lên thánh quả Phật đạo. Ngược lại, nếu không giữ thì khó tránh được quả báo đau thương kinh khủng như kinh Thủ Lăng Nghiêm và kinh Địa Tạng Phật nói rất rõ. Tiếp theo sau đây là bốn đoạn.
4- Phước báo của người thọ trì giới.
CHÁNH VĂN:
11/ Không sát, được hưởng thọ
Thân thể thường an khang
Không trộm, được giàu sang
Tiền của đầy như ý.
*
12/ Không dâm, hương thanh khiết
Thân hình thuần thuần đẹp thơm
Thần khí thường minh mẫn
Phong thái vượt đại dương.
*
13/ Tín thành không dối trá
Được chúng nhơn kính tin
Không rượu say trí sáng
Phước huệ đời tôn kính.
*
14/ Được năm phước hơn đời
Trời người cùng làm bạn
Đời kiếp ức vạn bội
Chân lý thật rõ ràng.
LỜI GIẢI:
Đoạn bốn này gồm có bốn bài kệ thuyết minh về phước quả khác biệt của ngũ giới. Kệ thứ mười một nói về quả báo thù thắng của người giữ giới không sát sanh. Phàm loài có máu huyết, có tri giác là có tánh linh, đồng thể tánh với tất cả. Kinh Thủ Lăng Nghiêm nói: “Các pháp sanh thành do tâm hiện hành. Tất cả nhân quả thế giới vi trần do tâm thành thể, cho đến cỏ lá giây gai kết hợp đều có căn nguyên, hàm hữu thể tánh”. Như thế vật nhỏ nhít như vi trùng cũng khởi lòng thương hộ mạng, không nỡ giết hại mới chân thật là từ bi, mới được quả thù thắng an khang trường thọ. Người Phật tử chẳng những không sát sanh mà còn tích cực ăn chay, phóng sanh khuyến người phát triển tinh thần vệ sinh, vệ tánh, vệ tâm. Vệ sinh là bảo vệ sinh lý tráng kiện không bịnh; vệ tánh là bảo vệ tánh tình linh hoạt minh mẫn không bất thường; vệ tâm là bảo vệ tâm lý an lạc không ưu tư sầu muộn, tức là thân tâm không bịnh hoạn, thường được kiện khang, trường thọ, đấy là quả báo thù thắng tất nhiên của giới sát, phóng sanh và trường trai.
Không trộm cắp mà còn bố thí thì được quả báo thù thắng vô cùng. Tâm bình đẳng bố thí tiền của vật chất thì nhận được quả báo giàu sang. Tâm hỷ xả bố thí vô úy thì được quả báo thù thắng an khang trường thọ. Giới kinh nói: Tiền bạc đồ quý cho đến cây kim cọng cỏ của người không cho thì không được lấy. Của thường trụ, của công cộng, của quan dân, tất cả những vật không cho thì không được lấy. Nếu lấy là thuộc về tội trộm cướp. Lén lấy, dối gạt cho đến trốn thuế, dối đò đều thuộc tội trộm cắp. Đã không trộm cắp lén dối lấy mà còn bố thí cứu giúp thì sẽ được quả báo tiền của như ý nguyện.