KINH ANAN VẤN PHẬT SỰ CÁT HUNG · Chương 3/3 · Phần 2/7

PHẦN HAI: KINH VĂN (phần 2)

 

CHÁNH VĂN:

Lại chẳng thực hành lục trai, ham thích sát sanh. Không tôn kính Phật, để kinh Phật chung lộn với áo quần vật bẩn thỉu; hoặc để kinh Phật chỗ bất tịnh giường ghế của vợ con; hoặc treo vắt trên ghế trên phên vách, không có tâm cung kính làm kệ tủ để kinh sách, xem thờ kinh Phật như kinh sách thế gian không khác.

 

LỜI GIẢI:

Là đệ tử Phật điều tối cần yếu là phải tu tâm bình đẳng, tâm thanh tịnh và tâm từ bi. Nếu không thể thực hành mỗi ngày tu thì ít ra cũng nên mỗi tháng tập tu sáu ngày, gọi là lục trai. Những ngày lục trai tính theo âm lịch là mùng 1, 8, 14, rằm, 23, 30 (nếu tháng thiếu thì 29). Những ngày này nên tu trì giới, tụng kinh, niệm Phật, sám hối để bồi dưỡng tâm tánh thuần từ thanh tịnh quang minh. Trước đây chúng ta sống trong thời đại nông nghiệp quân chủ có đủ thời gian sống với năm tháng thanh nhàn thưởng thức bình minh tĩnh mát, trăm rằm sáng soi. Ngày nay chúng ta sống trong thời đại kỹ nghệ dân chủ, mọi ý thức, sinh hoạt đều biến đổi, con người bị thời gian kéo lôi chạy theo máy móc mệt lả, thân tâm rã rời, nên phương thức tu bồi tâm tánh cũng theo đó biến đổi, tốt nhất mỗi tuần nên tịnh tâm trai giới là phương pháp lợi ích thực tế làm cho thân tâm khang kiện, thọ mạng dài lâu, phước huệ tăng trưởng.

“Ham thích sát sanh” phát khởi từ lòng tham dục, sân hận, ích kỷ, ngu si v.v… Những thứ phiền não độc hại nầy xúc tác phát khởi tâm động niệm thúc đẩy làm việc sát hại chúng sanh. Sát sanh là điều Phật giáo tuyệt đối ngăn cấm, vì như thế là hủy hoại tâm từ bi thanh tịnh, mắc phải quả báo oán cừu vay trả rất nặng.

Phàm người biết đọc sách mà biết quý trọng kinh sách, quý trọng kinh sách như quý trọng thánh hiền. Đệ tử Phật kính quý Pháp bảo như kính quý Phật. Người đã có tâm thuần chân với đạo thì tất nhiên kính quý kinh sách Phật tượng hơn cả thân mạng của mình. Vì sao, bởi vì kinh Phật là mực thước là phương pháp mà chúng sanh y nương theo đó hành trì, từ đó được tu chánh hành vi, phát huy phước huệ, thể nhập tri kiến, tiến gần đến quả vị giác ngộ giải thoát.

Người không có tâm quý kính kinh Phật thì không phải là người tu học Phật. Cũng như người không quý sách thì không phải là chân chánh đọc sách. Đem Phật kinh để chung với áo quần, hoặc đồ vật hư rách bất tịnh, hoặc bỏ bừa bãi trên giường ghế nền nhà, hoặc bạ đâu để đấy không có chỗ cao sạch, như thế là thiếu hẳn lòng kính quý kinh điển. Khách đến nhà mà còn phải có chỗ để khách ngồi, tỏ lòng quý khách. Đối kinh sách Phật, chúng ta lại càng phải đặc biệt có tủ hoặc kệ để kinh. Đó cũng là cách thể hiện lòng cung kính Pháp bảo. Không có chỗ đặc biệt để kinh sách Phật là mặc nhiên xem kinh sách Phật đồng như những sách báo khác, bạ đâu để đó thì rõ ràng hiển lộ tâm bất kính bất chánh bất cẩn, tự xem thường việc học đạo tu chứng. Người học Phật mà xem thường kinh sách Phật, tức là xem thường việc tu chứng giác ngộ giải thoát thì còn gì gọi là học đạo giải thoát?

 

CHÁNH VĂN:

Nếu khi bệnh tật, tự mình không tin tiền nhân nghiệp quả lại cầu hỏi thầy bói thầy phù thủy làm sớ văn cúng tấu để mong giải trừ. Thờ tà thần thì thiện thần xa lánh không còn hộ trì, do đây mà yêu tinh quỷ mị ngày một đến thêm nhiều, ác quỷ tụ tập nơi cửa khiến cho suy kiệt tổn hao, sở cầu không được tốt, hoặc mới vừa từ trong ác đạo ra được làm người, tuy là đời nay làm người, nhưng vẫn là người còn mang nặng tập khí tội lỗi. Hạng người như thế không phải đích thực là Phật tử.

 

LỜI GIẢI:

Đây là đoạn kinh thứ bốn Phật nói duyên do người tu học Phật mà lại không được quả báo tốt.

Đã mang thân người thì không ai tránh khỏi tật bệnh. Tôn chỉ Phật pháp là phá trừ mê tín, khai phát trí huệ. Nếu có bịnh thì nên chuyên tâm điều trị hợp tác với thầy thuốc để sớm được lành mạnh. Tốt hơn nữa, nên đem tâm thanh tịnh thành tín niệm danh hiệu Phật Bồ Tát thì sẽ được thần lực gia hộ bất khả tư nghì. Điều nầy thuộc tâm lý an lành. Y cứ học lý thâm sâu, niềm tin kiên cố, đạo tâm vững bền thì việc cầu Phật lực gia hộ chẳng phải là điều mê tín. Tất cả bịnh hoạn tai nạn đều do nghiệp quả bất thành. Thân miệng ý đã tạo nghiệp thì cũng phải dùng thân miệng ý tu chánh để dứt trừ. Kinh Hoa Nghiêm nói: “Chúng sanh vốn tạo các vọng nghiệp, đều do vô thỉ tham sân si, từ thân miệng ý mà sanh ra, chúng sanh phải nên tu sám hối”. Kinh cũng nói: “Tội từ tâm khởi đem tâm sám hối. Tâm dã thanh tịnh rồi thì tội liền tiêu”. Nếu không tin lời Phật khuyên dạy, lại đi tin quỷ thần, cầu thầy bùa thầy pháp bói toán đồng bóng, thì đấy là kết duyên với tà thần ác quỷ. Bởi vì tà sư phù thủy là hạng người thiếu tâm đức, mong được lợi lộc, thờ bái quỷ thần bói quẻ tấu sớ để trị bệnh nhơn, còn cúng bái thì tà thần ác quỷ còn giúp họ, hết cúng bái tà thần ác quỷ lại giận dữ phá hoại. Như thế mãi mãi có bệnh. Để mãi mãi được cúng bái. Cúng tế tà thần ác quỷ để hầu được giúp đỡ nào có khác gì làm việc hối lộ. Khổng Tử nói: “Chẳng nên cúng tế loài quỷ, vì đó là việc làm siểm nịnh”. Kinh Phật dạy: “Quy y Phật, vĩnh viễn không quy y thiên thần quỷ vật”. Đủ thấy các bậc Thánh triết tiên hiền có sự nhận thức tương đồng. Là đệ tử Phật đối với quỷ thần nên khởi tâm kính nhưng xa lánh đó. Cổ đức có dạy: “Kính nhi viễn chi”. Mỗi khi đi ngang qua miếu thờ thần hay gốc cây đại thọ nên chú nguyện: “Mong nguyện tôn thần phát tâm cầu thoát ly thế gian, không nên tiếp tục hưởng máu thịt, nên một lòng niệm Phật A-Di-Đà cầu sanh Tịnh độ, sớm thành Phật đạo, phổ độ chúng sanh”. Như thế là khởi tâm từ bi thuyết pháp khuyến hóa quỷ thần hướng thiện, điều nầy người tu học Phật phải nhớ thực hành. Nếu khẩn cầu thân gần thần quỷ thì đương nhiên xa lánh Phật thánh, tự nhiên phải bội lời phát nguyện khi phát tâm quy y Tam Bảo: “Đệ tử quy y Phật nguyện đời đời kiếp kiếp không quy y thiên thần quỷ vật”.

Đối với những người không tin lời Phật giảng, không y theo lời Phật day mà tu hành, đức Phật nói: “Những người như thế là những người mới từ trong đường ác vừa được sanh làm người, tâm chất còn nặng tà kiến, ác nghiệp không thể tiếp nhận chánh kiến thiện nghiệp, chẳng khác nào đứa trẻ mới sanh không thể mở mắt tiếp nhận ánh sáng mặt trời, không thể nào nhận lãnh những lời khuyên dạy. Trường hợp những người như thế, nếu tự biết, hoặc nhờ bậc minh sư chỉ đạo, cần phải nổ lực cầu giới pháp để trừ tập khí xấu ác, bồi dưỡng huân tập điều lành thiện thì sẽ được quả báo trừ mê mở ngộ, dứt khổ được vui.

Đức Phật nói những chúng sanh mới ra khỏi đường ác vừa được làm người thì nghiệp ác tập khí vẫn còn sâu nặng, vẫn là kẻ còn nghiệp bất thiện. Những chúng sanh tập khí ác còn quá sâu nặng thì cho dù có được quy y thọ ngũ giới hoặc giả xuất gia đi nữa, nhưng do còn khí chất tà kiến ác tập nặng nề, tuy danh nghĩa là đệ tử Phật mà kỳ thực chưa tương xứng.

Những lời đức Phật dạy trên đây dủ cho ta thấy rằng, những người hiện đời không chân chánh thành tâm tu học Phật, lại tin theo tà sư ma thuật, nên chuốc lấy quả báo tiêu hao suy thoái, đưa đến sự việc bất như ý và liên lụy đến đời sau sẽ còn phải chịu quả báo khủng khiếp.

 

CHÁNH VĂN:

Khi chết phải đọa vào địa ngục chịu các hình phạt tra khảo đau đớn, bởi do tà tâm gây tạo tội ác quả hiện đời suy thoái tiêu hao, đời sau lại còn phải chịu bao điều oan ương hoạn nạn, chết đọa vào đường ác luân chuyển chịu thống khổ khốc liệt không lời nào tả cho hết. Quả báo khổ đau như vậy đều do tâm niệm hành vi bất thiện đời trước và đời nầy tích tụ ác nghiệp mà hình thành.

 

LỜI GIẢI:

Đoạn kinh trên đây đức Phật giảng cho chúng ta biết về quả báo của kẻ mê tín tu mù tạp tin theo tà sư bạn ác, không y theo giáo pháp tu hành. Đức Phật cặn kẻ giảng dạy sự thật của chân lý nhân quả của quả báo hoạt hiện trong ba đời. Điều nầy Phật giảng nói hết sức rõ ràng đáng để cho chúng ta nghiên cứu suy nghiệm hầu thấu triệt cùng tận chân tướng vũ trụ nhơn sanh, từ đó phát tâm tu tĩnh để thoát khỏi vòng quanh nổi chìm trong vòng lục đạo quả báo.

Đời nay tạo nghiệp nhân gì thì đời sau, khi nhân duyên thuần thục đầy đủ nhất định hiện hành thọ quả báo, mảy may không sai sót. Như trước đã nói, kẻ mượn danh nghĩa Phật tử dù là xuất gia hay tại gia mà tà tri kiến, kết giao với ngoại đạo, theo tà sư ác hữu mê tín quỷ thần, thì không chỉ đời nầy chịu quả báo xấu ác mà còn tiếp nối những đời kế tiếp, sau khi chết phải liên tục chịu khổ báo trong địa ngục rồi ngạ quỷ súc sanh. Bởi do mê chấp dẫn đến mê tín tà hạnh, ngã chấp dẫn đến ngã mạn, ngã ái, ngã si, nên không nghe lời thiện tri thức khuyên can, mà dẫn đến hành xử sai lạc chánh pháp, tất nhiên phải nhận lấy quả báo bất thiện hiện đời và đời sau. Thế nên đức Phật nói: “Hiện đời suy thoái tiêu hao, đời sau lại chịu oan ương hoạn nạn, chết đọa vào đường ác luân chuyển chịu thống khổ khốc liệt không lời nào tả cho xiết”. Những lời Phật dạy trên đây đều nói về quả báo khổ đau hiện đời và đời sau, căn nguyên của nó là do “gây tạo tích tụ nhiều ác nghiệp từ tâm niệm hành vi bất thiện”. Những lời khuyên dạy thống thiết nầy phát xuất từ đáy lòng từ bi bằng trí tuệ giác ngộ của đức Thế Tôn đủ để cho chúng ta phản tỉnh quán chiếu thân tâm, dừng bước trên con đường lầm lạc đọa đày. Tiếp đến dưới đây, đức Phật đặc biệt khai đạo cho chúng ta tu học Phật pháp tất phải phá trừ chấp trước mê tín.

 

4- Phật huấn thị phải phá trừ mê chấp.

 

CHÁNH VĂN:

Kẻ ngu mù tối không thấu hiểu nguyên nhân của quả báo do hành vi đời trước tạo nghiệp nhân, dẫn tới báo ứng nghiệp quả, chính là nguyên nhân từ trước đưa đến ngày nay. Rõ ràng như vậy mà không thấy biết, lại nói do phụng thờ Phật pháp nên phải suy thoái tiêu hao; không những không biết chính tự đời trước chẳng tu phước đức mà còn oán trách thiên địa, giận thánh hờn trời, bởi do người đời mê muội nên chẳng thông hiểu đạo lý nhân quả báo ứng.

 

LỜI GIẢI:

Người đời chẳng thông hiểu chân tướng sự lý nghiệp duyên nhân quả báo ứng, nên oán trời trách người, mặc tình phóng tâm buông lời thả ý cho hả dạ mà mắc tội lỗi.

Kẻ ngu muội ở đời, theo quan điểm Phật giáo có năm nghĩa: 1/- Đắm chìm ngũ dục (tiền của, sắc tình, quyền danh, ham ăn, tham ngủ) mà tin phụng Phật. 2/- Thị phi điên đảo mà tin phụng Phật. 3/- Thích điều ác, ghét điều thiện mà tin phụng Phật. 4/- Nghe Phật pháp không thích không hiểu mà tin phụng Phật. 5/- Kẻ mới từ đường ác ra mà tin phụng Phật. Nói một cách tổng quát như kẻ tập khí ác nặng nề ngã si, ngã kiến, ngã mạn, ngã ái chưa đoạn trừ gọi là người ngu si. Tâm trí mê muội, không có chánh tri kiến phân biệt chánh tà chân ngụy gọi là kẻ mù tối.

“Nguyên nhân do hành vi đời trước” tức là nói ba nghiệp nhân của thân miệng ý đã tạo trươc đó hoặc trong quá khứ. Như kinh Phật nói: “Khi Phật ở tại tinh xá Kỳ Hoàn thuyết pháp, có sáu mươi vị sơ phát tâm Bồ Tát cùng đến chỗ Phật gieo mình đầu mặt lạy sát đất khóc lóc thống thiết như mưa, mỗi vị hỏi Phật về nghiệp duyên đời trước của mình. Đức Phật nói: Các ông ở thời đức Phật Câu Lưu Tôn xuất gia học đạo. Lúc đó có thành tâm cúng dường cho hai vị pháp sư hết sức là cung kính trọng hậu, thì các ông sanh tâm ghanh tỵ đố kỵ, nói chỗ lỗi của hai vị pháp sư kia vơi người thí chủ, khiến cho người tín chủ dần dần sanh tâm khinh mạn hủy báng làm đoạn dứt thiện căn. Do nhân duyên ấy mà các ông đã đọa vào bốn thứ địa ngục trải mấy vạn năm sau đó mới được trở lại làm người, trong năm trăm đời sanh làm người mù ngu si vô tri thường bị người khinh chê. Các ông sau khi qua đời trong năm trăm năm nữa, khi chánh pháp diệt rồi, còn phải sanh vào những chỗ quốc gia nghèo đói nhơn dân ác độc, làm kẻ hạ tiện bị người chê bai sai khiến, mê mất bản tâm, trải qua năm trăm năm khi diệt hết tất cả nghiệp chướng rồi, sau đó mới được sanh cõi nước Phật A Di Đà”. Đoạn kinh trên đây cho chúng ta thấy quả báo của hành vi tâm niệm thật đáng sợ, đâu dám không cẩn thận tự răn mình ư? Người tu học Phật phải thành tâm hết lòng tin lời Phật dạy là chân thành thực hành. Nhân quả báo ứng ba đời là chân lý bất di bất dịch, phải đem tâm thành tin sâu để từ đó tự thúc liễm thân tâm, thời thời phản tỉnh, ngày đêm tinh tấn không ngừng niệm Phật bái sám tham thiền, chuyên ròng dõng mãnh như mũi tên trực bay mới mong có ngày đạt đạo. Ngược lại chểnh mảng qua ngày, cơm áo đầy đủ tiêu hao của thí chủ thì khó tránh quả báo khổ. Đến như kẻ khinh thường nhân quả, mưu đồ quyền danh lợi dưỡng làm tổn thương đến Tăng đoàn, hại đến niềm tin Phật tử thì hậu quả không thể lường được.

Người ngu là người tâm không có chánh tri, mắt không chánh kiến cả hai đều tăm tối, chẳng rõ thị phi chánh tà, chẳng biết thiện ác lợi hại, dĩ nhiên càng không biết phản tỉnh “nguyên do hành vi đời trước đã tạo”. Đó là kẻ thật sự mê muội tăm tối. Nhưng cũng có những kẻ biết thiện ác chánh tà mà vẫn cố ý làm, do động lực thúc đẩy, hoặc vì tự ái, hoặc do ngã mạn, hay quyền danh lợi dưỡng, thì quả báo phải trăm ngàn lần hơn kẻ mê muội tối tăm kia. Có vị thiện thần đến hỏi Phật: Đêm nào tối tăm hơn hết? Đức Phật đáp: Không tin nhân quả luân hồi là ngu muội tối tăm hơn hết.

Đức Phật nói: “Muốn biết đời trước mình đã tạo nhân gì, thì cứ xem đời nầy mình đang thọ nhận được gì. Muốn biết đời sau mình sẽ chịu quả báo như thế nào, thì cứ xem đời nầy mình đang tạo cái nhân gì”. Như thế đủ biết tất cả sự việc trên đời không tách rời nhân quả nhân duyên nghiệp báo. Nhân quả báo ứng đều có nguồn gốc căn cội, chứ không phải tự nhiên mà thành. Khi biết nhân quả báo ứng như bóng theo hình, như mây theo gió, như bánh xe lăn theo chưn trâu, có tiếng thì có vang, thì tại sao chúng ta không cố gắng làm những điều tốt để cho “tâm thanh thản thân an ngủ thảnh thơi”, làm việc lành để “trời thương đất hộ quỷ thần phục”.

Có kẻ gặp phải những điều bất hạnh trong đời sống hiện tại, không biết đó là quả báo tiền khiên kiếp trước do chính mình đã tạo ra, hoặc biết mà cố ý lờ đi, lại đổ cho “do thờ Phật quy y Tam Bảo mà phải suy vi tiêu hao”. Chẳng biết tự trách đời trước đã vụng tu thiếu vun bồi phước đức mà còn tạo ác, nên đời nay phải chịu bao nhiêu điều không may. Đã vậy, đời nầy lại muốn hưởng phước chớ cũng vẫn chẳng chịu tu tâm dưỡng tánh hành thiện, cứ than thân trách phận, oán trời trách đất, hờn giận thánh thần không có mắt, chê bai Phật Bồ Tát không linh! Thế gian có lắm người ngày đêm dong ruỗi truy cầu lợi danh mong được thỏa tình dục vọng không bao giờ thấy đủ, dù là có bạc vạn bạc triệu. Hạng người tham vọng nầy không có chút giây phút định tinh thần phản tỉnh nội tâm, nên họ mãi miết mê đắm điên đảo nhào lộn theo sự vật tiền tài thành bại, tự hủy hoại tâm đức như con thiêu thân, suốt đời chẳng thông hiểu lý sự nhân quả, cứ tiếp tục tạo ác nghiệp và để mãi mãi đắm chìm trong phập phồng lo âu đau khổ.

 

CHÁNH VĂN:

Người không thấu đạt đạo lý, ôm lòng không yên, chí không kiên cường, tâm thối thất lạc đạo, trái phụ ơn Phật chỉ dạy mà không phản tỉnh hồi tâm, bị tà kiến trói buộc đọa đày trong ba đường ác, đều do mình tự tạo tác họa phước. Duyên do thức tâm tội ác, gieo thành gốc rễ lầm lạc, không thể không thận trọng.

 

LỜI GIẢI:

Do không thông hiểu chân tướng sự lý nhân quả báo ứng, nên tự tác tự thọ. Đức Phật nói: “Người không thấu hiểu đạo lý thì ôm lòng không yên, chí không kiên cường”. Vì sao? Bởi không thấu hiểu giáo lý của Phật dạy thì tâm trí u mê dễ bị cuốn lôi theo tình đời thế sự, tà sự bạn ác, để rồi từ đó nổi chìm thành, bại họa hại lo âu, tội phước không lường. Do đó, người tu thọc Phật trước nhất phải học hiểu giáo lý, phải siêng nghe giảng kinh thuyết pháp, phải chín chắn suy ngẫm giáo lý rồi thành tâm thực hành, hoàn thành ba vô lậu học: Văn, tư, tu, tức là “nguyện giải Như Lai chân thật nghĩa”. Giáo lý kinh điển không thấu rõ, không có tâm tìm cầu minh sư để thân gần tu học, thì không từ đâu thông đạt đạo lý, do đó “nguyện giải Như Lai chân thật nghĩa cũng không thành”. Vì không biết cách tu học, cũng không thân gần minh sư, nên tâm tư cứ mãi nghi hoặc bất định, vĩnh viễn không thể sanh khởi lòng thanh tịnh tín tâm kiên cố, hành vi tâm niệm trở nên hồ đồ nay vầy mai khác không như giáo pháp, tâm chí tấn thối thất lạc không hợp đạo lý, trái ngược ý Phật, thật là phụ ơn đức Phật ần cần chỉ dạy lắm vậy.

Thân mạng chúng ta được cha mẹ sanh dưỡng. Huệ mạng của chúng ta được sư trưởng huấn dục tạo thành. Như thế sư trưởng là cha mẹ của huệ mạng. Phật là bậc đạo sư hướng dẫn chúng ta giác ngộ đạo lý giải thoát sanh tử luân hồi. Vậy ơn sư trưởng, ơn Phật thâm sâu cao cả hơn cha mẹ. Vì sao? Vì thân này nhơ bẩn giả tạm khổ lụy trong sanh tử luân hồi. Đạo lý của Phật không những làm cho chúng ta đạt được pháp thân huệ mạng trường cữu mà còn có khả năng giác ngộ giải thoát cho cha mẹ lục thân quyến thuộc và tất cả chúng sanh ra khỏi sáu nẻo sanh tử luân hồi. Thế nên tự nhận mình là Phật tử mà không thấu hiểu giáo lý, không tìm cầu thân cận minh sư học hỏi tu tập, không y theo lời Phật dạy hành trì, lại sanh tà tâm vọng tưởng hiếu kỳ, sáng chạy nơi nầy chiều đến nơi khác, gần tà sư bạn ác, thế là chẳng những trái với lời Phật dạy, cô phụ ân đức của Phật, mà còn không cứu giúp được cha mẹ thân quyến, thật là bội bạc tội lỗi biết là dường nào! Nếu biết không kịp thời hồi tâm phản tỉnh trở về sống với chánh pháp dốc lòng chánh tâm quán niệm sửa tánh hành thiện, tức là “biển khổ mênh mông, hồi đầu bến giác”. Nhưng rất thương thay kẻ không thấu đạt đạo lý “không phản tỉnh hồi đầu, bị tà kiến trói buộc cuốn lôi nổi chìm trong ba đường khổ, đó chính là chúng ta tự tạo tai họa cho chúng ta”.

Không biết phản tỉnh, cố chấp mê lầm, chẳng chịu hồi tâm sám hối là do màn lưới tham sân si mạn nghi bao phủ, sống hay chết ngủ trong hầm tối của tà kiến ác niệm nghe theo lời dụ ngọt của ác đảng ác hữu tà sư, ham thích quyền danh lợi dưỡng, tất nhiên hậu quả không cách nào thoát khỏi đọa đày trong ba đường khổ, và như vậy không tài nào nhổ sạch gốc rễ dây rừng chằng chịt luân hồi trầm luân ngũ dục. Lấy dây tà kiến tự trói mình bằng sự tin theo ngụy tăng tà sư bạn ác a dua vui đâu tấp đó là mặc nhiên tự mình vun trồng dây tà ngụy bò leo trên giàn tham sân si mạn nghi, tưới phân nước ngũ dục vào gốc rễ tam độc, như thế đều là “tự tác tự thọ” chớ có trách ai?!

“Duyên do thức tâm tội ác” là nói bản tánh của chúng sanh từ vô thỉ đến nay, đời này đời khác tiếp tục tiêm nhiễm dục tình tập khí hình thành “thức tâm tội ác”. Khổng Tử nói: “Tánh tương cận giã, tập tương viễn giã”. Khổng Tử nói “tánh” cũng chẳng khác nào như Phật nói bản tánh. Còn “tập” mà Khổng Tử đề cập ở đây thì tương đồng như Phật nói tội thức. Tập tuy là có thiện có ác, nhưng phần nhiều mang tính chất huân tập nhiễm ô. Tác dụng của bản tánh thanh tịnh hàm tàng tất cả chủng tử thiện ác. Chủng tử thì vĩnh hằng không hoại diệt, một khi gặp duyên thì liền sanh khởi hiện hành, kết quả hoàn thành báo ứng. Chủng tử trong tạng thức của phàm phu ác nhiều thiện ít, nên gọi là tội thức. Ở đây nói tội thức tức là chỉ về nghiệp chủng tử tà ác huân tập nơi tàng thức của chúng sanh. Tất cả thiện ác chánh tà thị phi hoạt hiện hành vi tâm niệm từng giây từng phát sát na trải qua trong suốt đời sống của mỗi chúng sanh đều huân chứa trong tàng thức, nên kinh đây nói là “gieo thành gốc rễ” để rồi chịu quả báo. Như thế trong đời sống chúng ta há lại chẳng thận trọng thân miệng ý ư? Có lần đức Phật bảo các tỳ-kheo: “Chừng nào rắn độc tham sân si trong người ra hết rồi, lúc đó các con mới an ngủ”.

 

CHÁNH VĂN:

Thập ác là oan gia, thập thiện là bạn lành, thân tâm an ổn đều do tu thiện mà được. Thiện là áo giáp bằng đồng không sợ binh đao; thiện là thuyền lớn có thể vượt nước sông sâu biển cả, hay giữ lòng tin chân chánh thì nhà cửa an hòa, phước báo tự nhiên tăng trưởng, đạt được từ việc tốt lành nầy đến việc tốt lành khác, không phải thánh thần ban cho. Nếu không tin như vậy thì về sau sẽ chuyển thành bi kịch.

 

LỜI GIẢI:

Trên đây đức Phật khai đạo cho chúng ta nhận rõ tiêu chuẩn thiện ác và định luật nhân quả, đồng thời kín đáo khuyến cáo chúng ta nên tin sâu nhớ kỷ ghi lòng khắc dạ lời của các đức Phật trong bảy đời huấn thị: “chớ làm các điều ác, nên làm các việc lành, phải giữ lòng thanh tịnh”. Điều nầy dễ dàng ai cũng biết. Dễ đến nổi đứa bé năm tuổi cũng biết, vậy mà già tám mươi tuổi chưa làm được.

Thập ác là quy nạp các ác nghiệp căn bản thành mười loại: Sát sanh, trộm cắp, tà dâm, ba nghiệp ác nầy thuộc về thân; nói dối nói thêu dệt, nói lưỡi hai chiều, nói lời thô ác, bốn nghiệp ác nầy thuộc về miệng; tham lam sân hận si mê, ba nghiệp nầy thuộc về tâm. Mười ác nghiệp trên đây là giặc cướp phá hoại đức tánh của chúng sanh, nên kinh đây gọi là oan gia. Oan gia oán cừu mà gặp nhau thì nhất định phải hại nhau. Sát sanh là nghiệp ác nhất trong thập ác. Phàm người phạm thập ác thì quyết phải mắc quả báo khó thoát khỏi địa ngục A-tỳ, tức là địa ngục vô gián. Địa ngục nầy khổ báo hình phạt vô cùng khốc liệt đớn đau không lúc nào ngừng nghỉ. Mạng người ngắn ngủi trong hơi thở, mấy mươi năm sống trên đời mau như đám mây buổi hoàng hôn, như bóng ngựa qua cửa sổ, như chim về tổ buổi chiều tà, như làn khói bay qua mắt. Nhơn sanh thế sự như bèo trôi bọt nước, bản than vốn đã bất tịnh giả tạm thì vợ con của cải lợi danh nào có thoát khỏi vô thường tan biến. Thở ra mà không hít vào thì tất cả buông xuôi trắng tay, sao phải khổ công dong ruỗi tạo ác nghiệp làm chi để phải quả báo đọa đày khổ lụy? Thanh Đề mẹ của tôn giả Mục Kiền Liên, Hy Thị vợ Lương Võ Đế, gần nhất là cái chết của anh em Ngô Đình Diệm đủ để chúng ta rự răn mình.

Thập thiện thì trái với thập ác, tức là thân không tạp nghiệp sát sanh, trộm cắp, tà dâm. Miệng không nói dối, nói thêu dệt, nói lưỡi hai chiều, nói lời hung ác. Ý không khởi tham lam, sân hận, si mê. Như thế gọi là mười điều thiện. Mười điều thiện nầy là lương thực là hành trang, là động lực đưa người về thiên giới. Người tu học Phật điều căn bản là phải tu đầy đủ mười điều lành thiện nầy. Kinh Thập Thiện chuyên thảo luận vấn đề nầy một cách rõ ràng, không tìm đọc là điều thiếu sót không nhỏ cho vấn đề mở mang kiến thức, lợi ích thiết thực trong việc tu hành thanh tịnh hóa thân tâm. Những ai y theo thập thiện tu tập một cách nghiêm chỉnh thì mới được gọi là chân chánh thiện nam tử thiện nữ nhơn.

Bạn lành là bạn thâm hậu, bạn đạo đức thiện tri thức có khả năng giúp đỡ chúng ta được an lành thanh tịnh. Bạn lành đó không gì bằng lấy thập thiện làm bạn. Gọi là bạn lành thì phải chí đồng đạo hợp, hoạn nạn tương trợ nhau, cùng nhau thành tựu công nghiệp, đó là bạn thế gian. Còn bạn lành xuất thế gian chính là các bậc chân Tăng, Phật, Bồ Tát. Thân gần hầu học với các bậc chân Tăng, nhứt tâm niệm Phật Bồ Tát để được minh tâm kiến tánh thành Phật thành Tổ, điều này bạn lành thế gian vô phương giúp đỡ, mà tất cả phải tự mình nỗ lực cố gắng công chuyên cần tu tập thập thiện, với sự hướng dẫn của bậc chân Tăng và thần lực gia hộ chư Phật Bồ Tát, từ đó quyết chí thực hiện tam vô lậu học giới định huệ, được như thế mới có thể mãn nguyện về việc thánh thiện đời mình, điều tiên quyết căn bản là nghiêm chỉnh thực hành thập thiện. Thế nên thập thiện mới đích thực chân chánh là bạn lành xuất thế gian, mà bất cứ ai cũng có thể kết bạn tôn trọng với thập thiện giữ gìn để tu tập. Muốn thực tế để đạt thành kết quả thánh thiện trong hiện đời thì đừng để “tâm” phóng túng bơi lội chơi vơi trong rừng giáo lý mênh mông, đừng để “ý” chạy theo sở thích hiếu kỳ với những lý thuyết không tưởng, những giáo lý cao siêu ngoài khả năng của mình, cũng phải cẩn trọng đừng để miệng đắm mê trong luận bàn các tư tưởng pháp môn thấp cạn sâu, mà nên thực tế tu tập thập thiện, chuyên tâm niệm Phật quán chiếu nội tại để kiện toàn thân tâm thanh tịnh, để không lầm đường lạc lối, dứt nghiệp chướng tiền khiên và nghiệp bất thiện hiện đời, thực hiện tu tập như vậy là thực tế để về ngôi giác ngộ Phật quả.

Điều đơn giản đem lại thành quả thực tế như vậy thế mà chúng ta không thực hành, suốt tháng ngày cứ chạy đông chạy tây, nay thầy nầy, mai cô nọ, loanh quanh đuổi bắt theo lý thuyết mới lạ, pháp môn kỳ bí để thỏa mãn óc hiếu kỳ, thì thật vô tình hủy hoại chánh tâm chánh niệm khả năng phát triển Phật tánh và thời gian, phụ bạc công ơn Phật và các bậc thầy tổ đã trút hết tâm huyết khô miệng hết lời giảng cho chúng ta. Chúng ta thấy trong pháp hội Lăng Nghiêm, ngài A-Nan thông minh đa tài, mãi say sưa văn triết giáo thuyết mà có phần khiếm khuyết hạ thủ công phu tu tập, tâm lúc nào cũng có tưởng mình thông minh học giỏi hiểu rộng biết nhiều thì sẽ được Phật ban cho thánh quả, đến khi bị nạn Ma Đăng Già thì mới sực tỉnh ra rằng đạo lực của mình còn yếu kém phải cần đến Phật cứu giúp. Đức Phật khai thị: “Người ta ăn cơm, mình không thể no; người ta có bịnh mình không thể thay”. Tuy A-Nan với Phật là ruột thịt chí thân, nhưng Phật không thể thay thế cho A-Nan, mà chỉ phải chính A-Nan hồi tâm phản tỉnh tiến tu, Phật mới có thể hướng đạo. Phật giáo tuyệt đối không có mê tín, không có ỷ lại vào bất cứ ai ban phước giáng họa, mà chính mình phải thành tâm chân chánh y theo lời Phật dạy tu hành thì mới mong giác ngộ chứng quả, như Phật đã nói: “Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành”, nếu tất cả mọi người đều chân tâm chánh niệm y như lời Phật dạy cố gắng tu hành. Thành Phật hay đọa lạc, hiển vinh hạnh phúc hay khổ nhục bất hạnh tất cả đều do chính ta tự tác hoàn tự thọ, nên Phật chỉ cho chúng ta phương pháp dễ thấy, dễ tin, dễ thực hành: Mười điều ác là oan gia, mười điều thiện là bạn lành. Bất cứ ai hễ nhận biết nhận chân đâu là oan gia để tránh, đâu là bạn lành để theo, tức là phản tỉnh thì liền đó từng giây phút tội lỗi giảm thiểu, phước đức tăng trưởng. Thiện niệm tăng trưởng theo ngày giờ tháng năm thì tự nhiên hiện đời thân tâm an lạc không còn lo sợ phiền não, và khi từ giã cõi đời nầy chắc chắn được sanh về cảnh giới an vui của chư thiên, tiến xa hơn nữa là cõi nước thanh tịnh của chư Phật, rồi tiếp tục tu hành sẽ thành Phật. Vậy Phật là do dứt ác tu thiện mà được quả vị Phật. Thực tế như thế, tại sao không chánh tâm thành ý y theo lời Phật dạy để tu hành mà lại sanh tâm cầu mong viễn vong, thỏa mãn với lý thuyết không tưởng, mê tín chạ theo những kẻ tự xưng có phép lạ, tà ngụy Phật thánh?

Ngài Diên Thọ thiền sư nói: “Thập thiện là áo giáp bằng đồng không sợ binh đao. Thập thiện là thuyền lớn vượt nước sông sâu biển cả”. Đao binh là chỉ các loại khí giới chiến tranh do tham vọng giận tức hận thù tạo nên. Nước là chỉ cho tham ái. Lòng tham dục không đáy là căn nguyên của tất cả tai họa. Thập thiện có công năng tiêu trừ tam độc tham sân si, cội rễ của phiền não, họa hại chiến tranh, và đưa người vượt qua biển khổ sanh tử luân hồi đến chỗ an lạc hạnh phúc. Thế nên Phật nói: “Hễ ai hay giữ lòng tin chân chánh thì nhà cửa an hòa, phước báo tự nhiên đến”. Do tạo nhân thiện thì được quả lành, không phải Phật Thánh thần tiên nào có quyền năng ban cho cả. Chính mình chánh tâm thành ý tinh tấn tu tập thập thiện thì được an lành Phật ngay hiện thời và tự tại giải thoát khi từ bỏ xác thân nầy. Nếu không tin nhân quả Phật đã chỉ dạy, thì tất nhiên tự đẩy mình xuống hố chông gai tội lỗi. Trong kinh Vị Tằng Hữu Thuyết Nhân Duyên, vua Ba Tư Nặc hỏi Phật: “Bạch đức Thế Tôn, tại sao người tu pháp thập thiện chỉ một đời mà có thế dứt sạch được nghiệp ác từ thời quá khứ đến nay, được phước báo sanh lên cõi trời hoặc trở lại làm người giàu sang phú quý?”. Đức Phật đáp: “Nầy Đại Vương! Thật là dễ hiểu! Ví như người nhà nông gia công dùi gổ lấy lửa, chỉ chuyên tâm dụng công trong thời gian ngắn thì cũng đã được lửa, mà lửa đó có khả năng đốt sạch các đống cỏ rơm tích lủy từ nhiều năm trước đến nay trong khoảnh khắc”. Người tu thập thiện cũng vậy, nếu thành tâm thiện chí nhất ý một lòng chánh niệm tu tập thập thiện thì sẽ dứt sạch nghiệp chướng trong ba kỳ. Ngược lại, nếu chỉ hình thức, thọ giới cho nhiều để biểu diễn cầu danh lợi dưỡng thì sẽ lãnh quả báo khổ đau. Như Phật nói trong kinh Vị Tằng Hữu: “Sau khi vua Ba Tư Nặc và hoàng hậu nghe Phật thuyết pháp xong, lòng vô cùng hoan hỷ, Thiên long bát bộ cùng đại chúng hơn năm trăm người đều phát tâm tu Thập thiện. Vua Ba Tư Nặc và hoàng hậu đảnh lễ Phật cảm tạ rồi lui ra về. Các quan Thái giám ra trước chuẩn bị kiệu sẵn sàng cho Hoàng hậu, không ngờ thấy mất thất bảo trang sức trên kiệu đã bị kẻ trộm gỡ lấy mất sạch hết. Kiệu trước đây lộng lẫy, bây giờ trơ trọi tả tơi hoang tàn. Quan Thái giám thất kinh liền gọi bốn kẻ thạch nữ lực lưỡng khiêng kiệu đang ngủ say dậy tra hỏi đánh đập không tiếc tay. Bị đòn quá đau đớn hết chịu nỗi, một trong bốn kẻ vụt chạy vào tinh xá la khóc ầm vang, quỳ lạy trước Phật khóc nức nở thảm thiết, thưa trình tự sự oan ức. Phật liền sai tôn giả A-Nan ra bảo đừng đánh họ nữa. Vì những người khiêng kiệu đó chính là thầy của Hoàng hậu, họ say ngủ nên không biết ai lén gỡ cắp đi những châu ngọc trang sức ở kiệu. Nghe vậy Hoàng hậu và vua Ba Tư Nặc kinh ngạc, liền đến trước Phật quỳ lạy cầu xin giảng giải về sự việc kỳ lạ này. Phật bảo rằng: Những người thạch nữ khiêng kiệu đó, tiền kiếp vốn là 5 vị sa môn. Họ tà tâm kết bè nhóm với nhau ở chung một chỗ trên núi mưu đồ tính kế lợi dưỡng không lo tu hành. Họ sai một người trong bọn khéo ăn nói đi vào làng mạc phố phường truyền rao với mọi người rằng: “Trên núi kia có bốn vị sa môn đang ngày đêm chuyên tâm tu hành rất là giới hạnh đạo đức, các Ngài ấy sắp chứng thánh quả. Bà con nên mau mau đến đó cúng dường kiếm phước. Ai được thấy dung mạo các ngài ấy thì gia đình con cái sẽ bình an, cầu gì được nấy. Nghe truyền rao đồn đãi như vây, ai nấy ùn ùn kéo nhau đem lễ vật đến cúng bái. Trong số những người đến cúng dường có một trưởng giả giàu có ngày ngày thành tâm đem đủ thức thọ dụng đến dâng cúng và tôn kính bọn họ như bậc sư phụ. Năm sa môn đó được của cúng dường ăn xài thỏa dạ, lợi dưỡng hưởng thụ, thiếu tâm tu hành, nên có nhiều kiếp đọa vào địa ngục, làm loài ngạ quỷ và súc sanh, nay mới được làm người. Người phú hộ kia chính là tiền thân của Hoàng hậu. Năm sa môn đời trước kia, bây giờ chính là bốn kẻ thạch nữ chuyên khiêng kiệu và một kẻ nữa dang ở trong cung ngày đêm chuyên lo dọn quét nhà tiêu nhà tắm cho Hoàng hậu đấy”. Nghe thế Hoàng hậu bàng hoàng rùng mình xót xa thương tâm cho năm kẻ kia, và hạ lịnh ban cho tiền bạc đồ dùng rồi bảo họ rời đi nơi khác hoặc phát tâm theo Phật tu hành. Năm kẻ nầy nghe vậy buồn rầu lạy lục khóc lóc thảm thiết cầu xin được ở lại hầu hạ hoàng hậu. Trước sự việc nhân quả báo ứng kinh khiếp như vậy, Hoàng hậu lo sợ phân vân chẳng biết nên tính như thế nào cho phải lẽ, e ngại lại phải mắc quả báo lỗi làm dùng các người mà tiền kiếp mình đã từng tôn kính cúng dường hâu hạ mình. Đức Phật thấu rõ nỗi lòng lo âu của Hoàng hậu, nên Ngài khởi tâm từ bi dạy rằng: Vì nghiệp quả chưa dứt nợ trả chưa xong, quả báo buộc ràng, nên bọ họ không thể ra đi được. Họ rất vui vẻ làm kẻ hạ tiện hầu hạ để trả quả báo. Dù Hoàng hậu tặng họ vàng bạc y phục đầy đủ khuyên họ ra đi, nhưng họ vẫn cảm thấy buồn khổ không chịu đi, vì quả báo trả chưa xong. Nghiệp nhân đã tạo, quả báo tự thọ”. Cũng trong tinh thần nhân quả nghiệp báo duyên sanh, kinh Hoa Nghiêm nói: “Muốn biết tất cả các đức Phật trong ba đời thì nên quán tánh của pháp giới hết thảy đều do tâm tạo”. Chúng sanh vui khổ giàu nghèo sang hèn cùng với hoàn cảnh chúng sanh đang sống, tất cả đều do tâm tạo. Tâm ý hành vi là kim chỉ nam cho hướng đi của đời người, là chất liệu ngói gổ xây dựng ngôi nhà cho kiếp sống nhơn sanh hiện đời và đời sau.

 

CHÁNH VĂN:

Phật nói: Nầy A-Nan! Thiện ác theo người như bóng theo hình không có xa lìa nhau. Việc tội phước đối với chúng sanh cũng như vậy, chớ nên ôm lòng nghi ngờ mà tự đọa vào đường ác. Tội phước nhân quả phân minh, phải nên tin chắc chớ đừng lầm lẫn, thì chỗ ở thường an lạc. Lời Phật nói hết sức chân thật trọn không dối người.

 

LỜI GIẢI:

Trên đây Phật dạy A-Nan về chân lý nhân quả báo ứng của thiện ác. Thiện ác báo ứng theo sát người như bóng theo hình không thể nào xa lìa trốn tránh được. Tin chắc như vậy và dùng chánh trí tin sâu lời Phật dạy thì không bị tà thuyết vật dục làm mê hoặc. Liên quan đến vấn đề thiện ác báo ứng, kinh Phật có đoạn nói như thế nầy: “Có ông nhà nghèo hiền ở gần Kỳ Viên tinh xá, phát tâm mỗi ngày đến quét tinh xá Phật và Tăng chúng với lòng chí thành không lúc nào tỏ ra giải đãi mỏi mệt. Một ngày nọ có ông trưởng giả đến Kỳ Viên dạo chơi bổng thấy dưới lòng suối lớn hiện ra lâu dài làm bằng thất bảo, trưởng giả lấy làm lạ mới đem chuyện nầy hỏi Phật, mới biết là của ông nhà nghèo hiền hậu kia, do ngày ngày thành tâm quyết tinh xá cho Phật và Tăng chúng mà được phước báo như ậy. Vị trưởng giả nghe xong lòng hoan hỉ tìm dến gặp ông nhà nghèo hiền kia thương lượng dùng năm trăm cân vàng để mua lâu đài thất bảo đó. Ông nhà nghèo hiền được vàng liền mở hội bố thí cúng dường. Phật nhân đó thuyết pháp về nhân quả thiện ác báo ứng, khiến cho ông nhà nghèo hiền làm công quả kia tin sâu, nhờ đó mà chứng được đạo quả”. Dẫn đoạn kinh trên đây cho chúng ta rõ thiện ác quả báo là sự thực hiển nhiên, để từ đó có thể dứt trừ mê chấp khinh thường, Phật nói: “Bồ Tát sợ nhân, chúng sanh sợ quả”. Kinh nói: “Không sợ tham sân sanh khởi, chỉ sợ giác ngộ chậm lâu”. (Xin tìm xem quyển Phương Pháp Cải Đổi Vận Mạng).

 

5.- Đức Phật nói Tam Bảo khó được gặp.

 

CHÁNH VĂN:

Đức Phật lại bảo A-Nan: Như Lai không nói hai lời, khó gặp Phật ở đời, khó nghe được kinh pháp, ông có phước duyên đời trước, nên nay được hầu Phật nghe pháp.

 

LỜI GIẢI:

Trên đây đức Phật nói với tôn giả A-Nan cũng là nói với chúng ta. Ngài nói: “Như Lai không nói hai lời”. Qua câu nầy ta cảm thấy lời của Phật thật là thống thiết trút hết tâm cang khô khàn cả miệng lưỡi như lời tâm huyết thiết tha của bậc cha già cam đoan khẳng định trao trút hết cho đàn con.

“Khó gặp Phật ở đời”, bởi chúng sanh tạo nhiều nghiệp ác trôi lăn trong luân hồi sanh tử khó gặp được Phật ra đời. Có được cơ duyên gặp Phật hay gặp các bậc chân Tăng giảng truyền chánh pháp là phước duyên đặc thù phải mau kết gieo nhân lành bằng cách phát tâm quy y Tam Bảo, hồi đầu cầu tu học Phật pháp đừng để mất cơ hội. Kinh Tứ Thập Nhị Chương Phật nói: Được thân người là khó. Khó như người chìm nổi, bồng bềnh trôi trên biển cả đã nhiều năm tháng, nay gặp được phao. Chúng sanh gặp Phật pháp, gần chân Tăng, phát tâm quy y Tam Bảo, chẳng khác nào như con rùa mù nhiều trăm năm dưới đáy biển sâu nay nổi lên mặt nước gặp được bộng cây chui vào. Quả thật vậy, kinh điển lưu truyền bất tuyệt, chân Tăng giảng kinh thuyết pháp không ngừng, cửa chùa rộng mở tháng năm, tiếng kinh kệ sáng chiều âm vang bất tận, mà trần thế chẳng thấy mấy người chí tâm tầm sư học đạo! Nên cổ đức có câu: “Niết bàn hữu bộ vô nhơn đáo. Địa ngục vô môn hữu khách tầm”. Niết bàn mở cửa không người đến. Địa ngục cái khoen khách mở vào. Chúng sanh mải miết lao mình trong dục lạc ái ân, thị phi hơn thua giang hồ ân oán, huân tập thành ác nghiệp để rồi kiếp kiếp đời đời phải chịu lấy nghiệp báo, nên không thấy được chân trời hạnh phúc bao la của an lạc giác ngộ giải thoát. Đã biết bao triết gia thi nhân văn sĩ lừng danh kim cổ đều mang tâm chí nhiệt thành muốn tô điểm vẻ đẹp cho đời, nhưng cuối cùng đều phải thầm than “đời là vô thường mộng huyễn, là biển khổ trầm luân!”

Bể khổ mênh mông sóng ngập tràn

Khách trần chèo một chiếc thuyền chơi

Thuyền ai ngược gió, ai xuôi gió

Ngoảnh lại cùng trong biển khổ thôi.

Tất cả chúng sanh đang đắm chìm trong biển khổ của cuộc đời, đang lặn hụp nổi trôi trong sáu nẻo luân hồi không biết đến bao giờ mới thôi dứt, chỉ có người giác ngộ mới là an lạc giải thoát tự tại.

Làm thế nào để được an lạc giác ngộ giải thoát tự tại? chỉ có phát tâm Bồ đề chánh tín tu tập Phật pháp, tin sâu nhân quả là được an lạc, là bước đến ngưỡng cửa Niết bàn, đạt thành Phật quả chánh đẳng chánh giác. Ai cũng có thể phát tâm tu và ai cũng có thể thành chánh đẳng chánh giác. Đức Phật đã quả quyết tuyên bố: “Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh. Tất cả chúng sanh đều sẽ thành Phật”. Nếu tất cả mọi người ý thức được lời xác quyết của Phật, tin sâu vào đó phát tâm Bồ đề y theo Phật pháp nghiêm chỉnh tu hành thì sự an lạc trong tầm tay, sự giác ngộ giải thoát hiện ngay trước mắt. Thời gian tu hành từ phàm phu đến Phật quả phải trải qua ba A-tăng-kỳ kiếp, chậm mau tùy theo tâm chí kiên cường nhịp độ tinh tấn tu là được thành đạo chứng quả, nhưng cũng đã định hướng và trên đường bước đến đạo quả Niết bàn. Người nào không có quá trình công phu tu tập, không có gia công hành đạo mà tự cho mình có phép lạ linh thiêng chứng thánh, thì đó là kẻ ảo tưởng điên cuồng trong Phật pháp, kinh Phật gọi là “đại vọng ngữ, mắc tội rất nặng”. Thiền tông gọi là kẻ tà hoặc tẩu hỏa nhập ma.

Muốn trở thành học trò giỏi, có bằng cấp cao tiến sĩ, luật sự, bác sĩ thì phải cố gắng ngày đêm trải bao năm tháng dùi mài kinh sử, không rời đèn sách, chăm học không ngừng, chứ đâu phải học tà tà cho qua ngày tháng lấy lệ mà thành bác sĩ luật sư tiến sĩ được? Sự tu hành lại đặc biệt đòi hỏi phải chuyên cần tinh tấn hơn. Có quan niệm cho rằng đời còn trẻ chưa cần tu sớm, để già rồi tu cũng chẳng muộn. Nếu đó là ý nghĩ đúng thì sao không nói đời còn trẻ nên ăn chơi hưởng lạc thú để già rồi đi học cũng chẳng muộn. Tuổi già khí lực suy tàn, ở thế gian đã tạo muôn ngàn tội lỗi, tập khí phiền não sâu dày còn đâu năng lực để tu tập, còn đâu thời gian để hành đạo, còn đâu tinh thần mẫn cáng để đóng góp phần công đức vun trồng phước huệ. Kinh Phật dạy phước huệ tròn đầy mới thành chánh quả. “Phước huệ lưỡng toàn phương tác Phật”.

Có tu là có hạnh phúc. Tu là xây đắp nền móng, là cội gốc của hạnh phúc bản thân, gia đình, xã hội, quốc gia. Nên đạo Nho cũng dạy “trước phải tu thân, rồi mới tề gia, sau mới ra trị quốc bình thiên hạ”. Đạo Phật khuyên mọi người nên tu tập để hiện đời mình và người đều được an lạc, đời sau hưởng bầu trời vô tận hạnh phúc và cuối cùng là đạt đạo quả giác ngộ giải thoát. Các thức giả trong thiên hạ nếu phát tâm Bồ đề ngay bây giờ, trong đời nầy tinh tấn tu hành vun trồng phước đức vào cội Bồ đề tâm nguyện về cảnh giới Tịnh độ diện kiến Phật A Di Đà để được ngày đêm nghe Ngài thuyết pháp, thì nên Thiền – Tịnh song tu là pháp tu thuận duyên tiến nhanh trên đường thành đạt chánh quả. Bằng không thì phải đợi 56 ức năm nữa, khi đức Phật Di Lặc ra đời nếu còn được thiện duyên làm đệ tử Ngài trong pháp hội Long Hoa phát tâm tu hành. Nhưng thử lắng lòng tự hỏi có nắm chắc là sẽ được gặp đức Phật Di Lặc ra đời để được làm đệ tử ngài dự pháp hội Long Hoa không? Hay lúc đó còn chìm đắm trong ba ác đạo hoặc rơi vào lưới ngoại đạo tà giáo hay quay cuồng trong lục dục lạc trần gian. Khó lắm! Quá ư xa diệu vợi mơ hồ!

Chỉ có những ai ngay hiện đời thành khẩn phát tâm Bồ đề y theo chánh pháp tu tập, tha thiết thân cận chân Tăng học đạo mới tạo được thiện duyên gần Phật, thấy Phật. Còn tu lấy lệ, tu hình thức cầu danh lợi dưỡng, việc phước đức lơ là, ngã chấp pháp chấp sâu nặng thì tự đẩy mình cách Phật càng xa, đạo quả giác ngộ vô phương đạt đến. Nên kinh nói “rất khó gặp Phật ở đời” là vậy. Gặp Phật ở đời là khó, gặp minh sư học đạo là khó. Có thiện duyên lắm mới gặp. Mà hễ đã gặp lại được nghe giảng pháp là chứng ngộ. Chúng ta vô phước không gặp Phật, nhưng chúng ta còn có thiện duyên gặp kinh điển chan chứa lời Phật dạy, còn được các chân Tăng thiền đức giảng thuyết giáo pháp, từ đó chúng ta nghe hiểu phát tâm tu hành cũng là hạnh ngộ phước duyên, nên thành tâm phát nguyện trang kính tự cường, trang nghiêm Tịnh độ, hạ thủ công phu, nỗ lực tu học, để khỏi phụ ơn Phật, để còn đền đáp ơn phụ mẫu và ơn chúng sanh. Đức Phật đã vì chúng ta mà phải xả thân, dâng hiến trọn đời 80 tuổi, ròng rã 49 năm, ngày đêm thuyết pháp độ sanh cho đến giờ phút chót vào Niết bàn.

Mở trong trình đọc kinh