![]()
“Này các vị, một bậc tu hành chân chính không để tâm mình bị dẫn dắt bởi những ham muốn nhất thời. Khi tâm đã định, trí tuệ sẽ sáng suốt như ngọn đèn pha lê, soi thấu mọi vô minh. Hãy như ngài A Nậu La Độ, giữ gìn sự tỉnh giác trong từng hơi thở, dù trong đêm tối hay ánh sáng, để tâm không còn dao động trước những biến chuyển của thế gian.”
—— Trích đoạn KINH A NẬU LA ĐỘ
Bản kinh này là một văn kiện vô cùng quan trọng trong hệ thống giáo lý truyền thống, mang giá trị to lớn trong việc giải quyết những vấn nạn tâm linh. Ra đời trong bối cảnh xã hội cổ đại khi tư tưởng đang có sự chuyển mình sâu sắc, tác phẩm ghi lại những lời dạy minh triết nhằm xóa bỏ các kiến chấp sai lầm và chỉ ra con đường chân chính. Nội dung của văn bản đi sâu vào phân tích các khái niệm cốt lõi như nhân quả, nghiệp báo cùng những phương pháp thanh lọc nội tâm trong đời sống thường nhật. Thông qua những ví dụ thực tiễn và sinh động, nó làm sáng tỏ nhiều góc khuất của tâm thức, giúp người đọc nhận thức rõ ràng về sự vô thường của vạn vật. Ý nghĩa sâu sắc của tác phẩm nằm ở việc cung cấp một hướng dẫn thực hành có khả năng chuyển hóa mạnh mẽ phiền não thế tục. Trải qua lịch sử lưu truyền lâu dài, văn bản vẫn được giới học giả trân trọng như một ngọn hải đăng soi sáng con đường tu dưỡng đạo đức. Sự kế thừa của nó góp phần củng cố hệ thống triết học, cung cấp phương tiện thiện xảo đưa con người vượt qua mọi khổ đau. Nhìn chung, đây là một kiệt tác tâm linh đáng quý, để lại dấu ấn triết học sâu đậm trong tiến trình phát triển tư tưởng nhân loại.
Đây là những điều mà tôi đã được nghe hồi Bụt còn ở tại tu viện Trùng Các, trong rừng Đại Lâm, không xa thành phố Tỳ Xá Ly. Lúc bấy giờ đại đức A Nậu La Độ đang cư trú tại một cái am trong rừng, không xa nơi Bụt ở.
Một hôm có một số các du sĩ ngoại đạo đến thăm đại đức A Nậu La Độ. Sau khi trao đổi những lời chào hỏi và chúc tụng, họ hỏi đại đức: “Này hiền hữu A Nậu La Độ, đức Như Lai mà người ta tôn xưng là bậc đã chứng ngộ quả vị cao nhất, thế nào cũng đã nói và giảng giải cho hiền hữu nghe về bốn mệnh đề sau đây: một là sau khi chết, đức Như Lai vẫn còn; hai là sau khi chết, đức Như Lai không còn; ba là sau khi chết, đức Như Lai vừa còn vừa không còn; bốn là sau khi chết, đức Như Lai vừa không còn vừa không không còn. Hiền hữu nói cho chúng tôi nghe đi.”
Đại đức A Nậu La Độ trả lời: “Này các hiền hữu, đức Như Lai, bậc tôn quý trên đời, người đã từng chứng ngộ quả vị cao nhất, chưa bao giờ từng nói và giảng giải trong khuôn khổ bốn mệnh đề mà các vị hiền hữu vừa đưa ra.”
Nghe đại đức nói như thế, các vị du sĩ ngoại đạo nói với nhau: “Có thể là ông thầy tu này mới đi xuất gia, hoặc giả nếu ông ta đã đi tu lâu rồi, thì ông ta chỉ là một kẻ ngu độn.” Không vừa ý với đại đức, họ bỏ đi.
Sau khi các vị du sĩ đi rồi, đại đức A Nậu La Độ suy nghĩ: “Nếu các vị du sĩ ngoại đạo này cứ tiếp tục hỏi như thế thì ta phải trả lời thế nào cho đúng với sự thật và không sai với ý của Bụt ? Ta sẽ trả lời như thế nào cho đúng với chánh pháp và để đừng bị người đồng đạo chê trách?”
Rồi đại đức A Nậu La Độ đi tới nơi Bụt ở, cung kính làm lễ và thăm hỏi Người. Sau đó đại đức trình lên Bụt những điều đã xảy ra. Bụt hỏi: “Này đại đức A Nậu La Độ, thầy nghĩ sao? Có thể tìm Như Lai trong hình sắc không?”
– Bạch đức Thế Tôn, không.
– Có thể tìm Như Lai ngoài hình sắc không ?
– Bạch Thế Tôn, không.
– Có thể tìm Như Lai trong cảm thọ, tri giác, tâm hành và nhận thức không ?
– Bạch Thế Tôn, không.
– Có thể tìm Như Lai ngoài cảm thọ, tri giác, tâm hành và nhận thức không ?
– Bạch Thế Tôn, không.
– Này đại đức A Nậu La Độ, thầy có nghĩ rằng Như Lai là một cái gì vượt ra khỏi cảm thọ, tri giác, tâm hành và nhận thức không ?
– Bạch Thế Tôn, không.
– Này, A Nậu La Độ, đi tìm Như Lai ngay trong khi Như Lai còn sống đây mà còn không tìm ra được thì thử hỏi đi tìm Như Lai sau khi Như Lai đã ẩn diệt trong khuôn khổ bốn mệnh đề còn, không còn, vừa còn vừa không còn, vừa không còn vừa không không còn, đó có phải là một chuyện có thể làm được hay không ?
– Bạch Thế Tôn, không.
– Hay lắm, thầy A Nậu La Độ! Từ trước đến nay, Như Lai chỉ giảng dạy về KHỔ và con đường Diệt KHỔ.” (CCC)
Kinh A Nậu La Độ: Kinh này được dịch từ Tương Ưng Bộ của tạng Pali (Samyutta Nikàya IV, 380). Kinh tương đương trong tạng Hán là kinh số 106 của bộ Tạp A Hàm (99, tạng kinh Đại Chính). Kinh này tuy ngắn nhưng lại là một đề tài quán chiếu quan trọng vào bậc nhất giúp ta vượt được các ý niệm sinh / diệt, có / không, tới / đi và một / khác. Các tư tưởng của hệ thống Trung Quán đều được phát xuất từ các kinh căn bản như kinh này.
Đánh Giá
Chưa có đánh giá nào.