Quán-Âm Bồ-Tát
Nhân-Quả-Địa
lược-dẫn
1.- Danh-hiệu: Quán-Thế-Âm do dịch nghĩa nơi chữ Phạm “Avalokitesvara” ra chữ Hán, Quán-Thế-Âm gọi tắt là Quán Âm. Hồi đầu tiên Tàu dịch là Quang-Thế-Âm. Quán-Thế Âm có chỗ gọi là Quán-Thế-Tự-Tại hay Quán-Tự-Tại. Quán-Thế-Âm sở dĩ có danh hiệu ấy, theo kinh Pháp-Hoa nói: “Những chúng-sinh bị khổ não, nhất tâm niệm danh hiệu Bồ-Tát, tức thì Ngài quan-sát tiếng của họ, độ cho họ đều được giải thoát, bởi thế nên gọi là “Quán-Thế-Âm”.
Như thế, thâu tóm chân-nghĩa thời thấy rằng: Đây là một vị Bồ-Tát (Bodhisattva) hay nói rõ hơn là một vị có tâm-địa lợi tha rộng lớn, hạnh-nguyện sâu-dầy, trước cảnh-thái của sự, lý không bị chướng ngại lại quán-suốt tự-tại và nghe tiếng kêu cầu của chúng-sinh bị khổ-não, liền vì độ thoát cho họ.
2.- Nhân-quả-địa, của Bồ-Tát Quán-Thế-Âm:
– Kinh Bi-Hoa nói: “Thuở xa xưa, trong đời đức Phật Bảo-Tạng, nơi thế-giới Xan-Đề-Lam, thuộc Đại-Kiếp Thiện-Trì, có ông vua tên là “Vô-Tránh-Niệm”. Khi ấy, nhà vua được ông Bảo-Hải đại-thần khuyến- thỉnh phát-tâm cúng-dàng đức Phật Bảo-Tạng, phát-nguyện độ sinh, muốn sinh sang thế-giới an-vui, liền được đức Phật thụ-ký: sau này sinh sang thế-giới An-Lạc và tên hiệu là “Vô-Lượng-Thọ Phật” (A-DI-ĐÀ Phật). Cùng trong thời-gian ấy, người con trai cả của nhà vua tên là “Bất-Thuấn” và người con trai thứ tên là “Ni-Ma” đồng phát tâm cúng-dàng, phát-nguyện độ sinh, nên cùng được đức Phật Bảo-Tạng thụ-ký cho: Ngài Bất-Thuấn là Quán-Thế-Âm, Ngài Ni-Ma là Đắc-Đại-Thế, (Đại-Thế-Chí) đều sinh sang nước An-Lạc (Cực-Lạc) trợ hóa đức Phật Vô-Lượng-Thọ và về sau nữa Ngài Quán-Thế-Âm sẽ thành Phật tên hiệu là “Biến-Xuất Nhất-Thiết Quang-Minh Công-Đức Sơn-Vương Như-Lai”, thế-giới tên là “Nhất-thiết Trân-Bảo Sở Thành-Tựu”; ngài Đắc-Đại-Thế sẽ thành Phật tên là “Thiện-Trụ Trân- Bảo Sơn-Vương Như-Lai” và nhân nguyện mà được tên thế-giới là “Đại-Thế”.
– Kinh Thiên-thủ, thiên-nhãn đại-bi tâm đà-la-ni nói: “Bồ-Tát Quán-Thế-Âm có thế lực uy-thần không thể nghĩ, bàn được, Ngài đã từng ở trong vô-lượng kiếp về quá-khứ, đã thành Phật, hiệu là “Chính-Pháp-Minh Như-Lai”, nhưng vì sức thệ-nguyện từ-bi rộng lớn, muốn đem lại an vui cho chúng sinh, nên Ngài hiện làm thân Bồ-Tát.”
– Kinh Lăng-Nghiêm tự Ngài Quán-Âm nói: “Tôi nhớ trong vô số kiếp như cát sông Hằng về trước, có đức Phật ra đời tên hiệu ngài là “Quán-Thế-Âm”. Khi ấy, tôi ở nơi đức Phật Quán-Thế-Âm kia, phát-tâm Bồ-Đề, Ngài dạy tôi nên từ nơi “Văn, Tư, Tu” (nghe, nghĩ và tu), chứng nhập “Chính-Định” (Samadhi). Và sau cùng tôi được đức Quán-Thế-Âm Như-Lai tán-thán tôi khéo chứng được pháp môn Viên-Thông, ngay trong đại hội ấy, Ngài thụ-ký cho tôi hiệu là “Quán- Thế-Âm”, vì tôi nghe suốt tiếng trong mười phương đều được viên-minh, nên cái tên Quán-Âm của tôi vang khắp cả mười phương thế- giới”.
– Tới kinh Quán-Thế-Âm Bồ-Tát thụ-ký này, thời cũng nói: sau này Bồ-Tát Quán-Thế-Âm sẽ thành Phật tên hiệu là “Phổ-Quang Công-Đức-Sơn-Vương Như-Lai” và Ngài Đắc-Đại-Thế (Đại-Thế-Chí) Bồ-Tát sẽ thành Phật tên hiệu là “Thiện-Trụ Công-Đức Bảo-Vương Như-Lai”.
Với nhân địa, thụ-ký không ngoài những nét ghi lại nguyên-nhân phát-khởi, thời-gian thực hiện theo hoàn cảnh theo căn-khí chúng sinh và sẽ đạt tới thành-tựu viên mãn của hành-nguyện là thành Phật.
Tùy hoàn cảnh, căn-khí thị-hiện, nên danh-hiệu cũng do đấy mà sai khác, nhưng chân-ý chỉ là một.
KINH
QUÁN-THẾ-ÂM BỒ-TÁT
THỤ-KÝ (1)
– Sa-Môn Đàm-Vô-Kiệt dịch chữ Phạm ra chữ Hán
– Thích-Tâm-Châu dịch chữ Hán ra chữ Việt.
Chính tôi được nghe: một thời kia đức Phật ở Tiên-nhân Lộc-Uyển (2), nước Ba-La-Nại, cùng với hai vạn chúng Đại-Tỳ-Khưu (3); một vạn hai nghìn vị Bồ-Tát (4), mà các vị: Sư-Tử Bồ-Tát, Sư-Tử-Ý Bồ-Tát, An-Ý Bồ-Tát, Vô-Dụ-Ý Bồ-Tát, Trì-Địa Bồ-Tát, Bát-La-Đạt Bồ-Tát, Thần-Thiên Bồ-Tát, Thực-Sự Bồ-Tát, Già-Hầu-Đa Bồ-Tát, Hiền-Lực Bồ-Tát, Minh-Thiên Bồ-Tát, Ái-Hỷ Bồ-Tát, Văn-Thù Sư-Lỵ Bồ- Tát, Trí-Hành Bồ-Tát, Chuyên-Hành Bồ-Tát, Hiện-Vô-Ngại Bồ-Tát, Di-Lặc Bồ-Tát làm Thượng-Thủ (5); cùng một vạn hai nghìn vị Đại Bồ-Tát đồng tụ-hội nơi ấy. Lại có hai vạn vị Thiên-tử, Thiện-Giới Thiên-tử, Thiện-Trụ Thiên-Tử… làm Thượng-Thủ, là những vị đều trụ vào nơi Đại-thừa.
Bấy giờ đức Thế-Tôn liền vì thuyết pháp cho vô-lượng trăm nghìn quyến-thuộc vây quanh Ngài.
Khi ấy, trong pháp hội, có một vị Bồ-Tát tên là Hoa-Đức-Tạng, liền từ tòa ngồi của mình đứng dậy, chễ áo vai hữu, gối hữu quỳ xuống đất, chắp tay hướng lên Phật, bạch rằng: “Lạy đức Thế-Tôn! Kính xin đức Thế-Tôn, cho phép con ở trung-gian, muốn có điều gì cần hỏi, nên hỏi”.
Đức Phật bảo Bồ-Tát: Hoa-Đức-Tạng: “Tùy ý ông muốn hỏi gì thì hỏi. Các điều ông còn có chỗ ngờ-vực, ta đã biết rồi, ta sẽ vì ông giải-thuyết, để ông được vui vẻ”.
Bấy giờ, Bồ-Tát Hoa-Đức-Tạng bạch Phật rằng: “Lạy đức Thế-Tôn! Vị Đại Bồ-Tát làm thế nào không thoái-chuyển được đạo quả Vô thượng chính đẳng chính giác và năm phép thần thông (6), chứng được “Như-Huyễn Tam-Muội” (7), dùng phương-tiện khéo-léo, hóa được thân mình và tùy mọi hình loại thành được thiện-căn, mà vì họ thuyết-pháp, khiến họ chứng được đạo-quả Vô-thượng chính-đẳng chính-giác (8)”.
Đức Phật bảo Đại-Bồ-Tát Hoa-Đức-Tạng: “Ông đối trước Như-Lai Đẳng-Chính-Giác, hỏi được những nghĩa như thế, thực quý hóa thay, quý hóa thay! Ông Hoa-Đức-Tạng! Thế là trong đời quá-khứ đối với chư Phật ông đã từng trồng những căn lành, cúng dàng vô số trăm nghìn vạn ức chư Phật Thế-Tôn, mà đối với các chúng-sinh ông đã phát tâm đại-bi! Quý hóa thay, ông Hoa-Đức Tạng! Ông nên nghe cho kỹ, nghe cho kỹ và nên nhớ, nghĩ cho khéo, ta sẽ vì ông nói rõ những điều ông vừa hỏi”. Bồ-Tát Hoa-Đức-Tạng bạch Phật rằng: “Dạ, lạy Thế-Tôn, con muốn được nghe”.
Đức Phật bảo Bồ-Tát Hoa-Đức-Tạng: “Đại-Bồ-Tát thành-tựu một pháp là được “Như-Huyễn Tam-Muội”. Được Tam-muội (chính-định) ấy, dùng phương-tiện khéo-léo, hóa ra được thân mình và tùy mọi hình-loại thành được thiện căn, mà vì họ thuyết pháp, khiến họ chứng được đạo-quả Vô-thượng chính-đẳng chính-giác. Một pháp ấy là gì? Là “vô-y-chỉ” (9) không dựa vào ba cõi (10) lại cũng không dựa vào nội-tâm, không dựa vào ngoại-cảnh; đối với “Vô-sở-y” (11), chứng được “chính quán-sát” (quán-sát chân-chính). Được chính quán-sát rồi, liền chứng được “chính-tận” (12), mà đối với sự hiểu biết (giác, tri) không bị tổn-giảm. Bởi tâm không bị tổn-giảm, nên đều vượt lên được “chính-tuệ” (Trí-tuệ chân-chính). Nghĩa là hết thảy các pháp, theo DUYÊN khởi lên, do hư-dả mà có. Hết thảy các pháp, do nhân-duyên sinh. Nếu không có nhân-duyên, không có “sinh, pháp” (13), tuy hết thảy pháp theo nhân-duyên sinh, mà không có chỗ bị sinh (vô sở sinh). Như thế người thông-suốt được Vô-sinh-pháp (14) là được vào đạo chân-thực của Bồ-Tát, cũng gọi là được vào nơi đại-từ-bi-tâm, thương-xót, độ-thoát hết thảy chúng-sinh. Và, khéo hay hiểu biết sâu xa được nghĩa như thế rồi, thời biết được hết thảy các pháp như-huyễn, chỉ bởi ức-tưởng, ngôn-ngữ, tạo-hóa ra các pháp ấy. Song, ức-tưởng, ngôn-ngữ, tạo-hóa ra các pháp ấy, rốt-ráo đều là “không”. Khéo hay thông-suốt được các pháp “không” rồi, thế gọi là đạt được “Như-Huyễn Tam-Muội”. Được pháp Tam-Muội (chính-định) ấy rồi, dùng phương-tiện khéo-léo, hóa được thân mình và tùy mọi hình-loại thành được thiện-căn, mà vì họ thuyết pháp, khiến họ chứng được đạo-quả Vô-thượng chính-đẳng chính- giác”.
Khi ấy, Đại-Bồ-Tát Hoa-Đức-Tạng bạch Phật rằng: “Lạy đức Thế-Tôn! Trong đại- chúng này, hẳn có Bồ-Tát chứng được pháp Chính-định ấy?”
Đức Phật dạy: “Có. Nay trong hội này, sáu mươi Chính-sĩ (Bồ-Tát) có thệ-nguyện rộng lớn, trang-nghiêm, không thể nghĩ, bàn được, như Bồ-Tát Di-Lặc, Bồ-Tát Văn-Thù Sư-Lỵ v.v… được pháp Chính-định ấy”.
Bồ-Tát Hoa-Đức-Tạng lại bạch Phật rằng: “Lạy đức Thế-Tôn! Chỉ có các vị Bồ-Tát ở thế giới này được pháp Chính-định ấy, hay thế-giới phương khác lại cũng có các vị Bồ-Tát thành-tựu được “Như-Huyễn Tam-Muội” như thế?
Đức Phật bảo Bồ-Tát Hoa-Đức-Tạng: “Qua cõi Sa-bà (15) này chừng một ức trăm nghìn cõi về phương Tây, có thế-giới tên là An-Lạc, và trong nước ấy có đức Phật, hiệu là A-Di-Đà (16): Như-Lai, Ứng-Cúng, Chính-Biến-Tri… (17) hiện nay đương thuyết pháp ở đấy. Và, ở đấy có hai vị Bồ-Tát: vị thứ nhất, tên là Quán-Thế-Âm, vị thứ hai tên là Đắc-Đại-Thế, được pháp Chính-định ấy.
Thứ nữa, ông Hoa-Đức-Tạng! Nếu có Bồ-Tát nào, theo các vị Chính-Sĩ kia, trong bảy ngày bảy đêm lĩnh-thụ pháp ấy, liền đạt được “Như-Huyễn Tam-Muội”.
Bồ-Tát Hoa-Đức-Tạng bạch Phật rằng: “Lạy đức Thế-Tôn! Nếu thế, nước An-Lạc kia hẳn có vô lượng Bồ-Tát được pháp Chính-Định ấy? Tại sao? Vì, ngoài hai Bồ- Tát ấy, còn có các vị Bồ-Tát khác sinh sang nước kia, đều đến chốn hai vị Chính-Sĩ ấy lắng nghe và lĩnh-thụ pháp ấy”.
Đức Phật dạy: “Đúng như thế, đúng như thế! Đúng như lời ông nói, nơi ấy có vô lượng vô số Đại-Bồ-Tát theo hai vị Chính-Sĩ kia, được Pháp Chính-định ấy”.
Bồ-Tát Hoa-Đức-Tạng bạch Phật rằng: “Quý hóa thay! Đức Thế-Tôn là bậc đầy-đủ danh-hiệu: Như-Lai, Ứng-Cúng, Chính-Biến-Tri… mong đức Thế-Tôn dùng thần-lực, làm cho các Chính-Sĩ kia, đến được Thế-giới Sa-Bà này và lại làm cho thế-giới An-Lạc kia cùng thế-giới này, hai bên được trông thấy nhau. Tại sao? – Vì, các Chính-Sĩ kia đến được cõi này, thời thiện-nam-tử, thiện-nữ-nhân, thành được thiện-căn và nghe các vị-thuyết-pháp sẽ chứng được pháp Chính-Định ấy. Lại mong thấy được đức Phật A-Di-Đà của thế giới An-Lạc, làm cho những thiện-nam-tử, thiện-nữ-nhân ấy phát tâm Vô-thượng chính-đẳng chính-giác và nguyện sinh sang nước kia. Khi được sinh sang nước kia rồi, quyết-định không thoái chuyển đạo-quả Vô-thượng chính-đẳng chính-giác”.
Bấy giờ đức Thế-Tôn thuận nghe Bồ-Tát Hoa-Đức-Tạng thỉnh rồi, liền tỏa ra tia hào-quang trắng sáng, ngang khoảng lông mày, soi khắp ba nghìn đại thiên quốc-độ. Trong thế-giới Sa-Bà này, cỏ cây, đất đá, núi Tu-Di-Vương, núi Giải-Thoát, núi Đại-Giải-Thoát, núi Thiết-Vi, núi Đại-Thiết-Vi, cho đến thế-giới trung- gian, nơi u-minh, hết thảy đều thành sắc vàng và không nơi nào là không được sáng-sủa hết sức, đến như ánh-sáng chói-lọi của mặt trời, mặt trăng cùng những sức uy-quang lớn lao, cũng đều bị át đi, không hiện ra được. Hào-quang ấy soi khắp ức trăm nghìn cõi về phương Tây, cho đến thế-giới An-Lạc, hết thảy đều thành sắc vàng. Đồng thời hào-quang lớn lao ấy lượn vòng bên hữu đức Phật A- Di-Đà bảy vòng, rồi trước đức Như-Lai, hào-quang ấy bỗng nhiên không hiện nữa, mà chúng-sinh, Bồ-Tát, Thanh-Văn (18) nước An-Lạc kia, đều trông thấy quốc- độ Sa-Bà này cùng đức Phật Thích-Ca-Văn (19) và đại-chúng vây quanh Phật, nghe Phật thuyết-pháp, rõ-ràng như xem quả A-Ma-Lặc (Amalaka) (20) trong bàn tay, đều sinh tâm vui mừng trìu-mến và xướng lên lời này: “Nam-mô Thích-Ca Như-Lai, Ứng-Cúng, Chính-Biến-Tri…” Khi ấy, đối với đại-chúng hội họp trong cõi Sa-Bà này: Tỳ-Khưu, Tỳ-Khưu-Ni, Ưu-Bà-Tắc, Ưu-Bà-Di, Thiên, Long, Dạ-Soa, Càn-Thát-Bà, A-Tu-La, Ca-Lâu-La, Khẩn-Na-La, Ma-Hầu-La-Già, Nhân và Phi-Nhân v.v… (21); vua Đế-Thích, Phạm-Vương, Tứ-Thiên-Vương, Bồ-Tát, Thanh-Văn, đều trông thấy thế-giới An-Lạc, đức Phật A-Di-Đà, Bồ-Tát, Thanh-Văn quyến-thuộc vây quanh Phật, hào-quang sáng như núi báu cao vót, rõ-rệt lạ-lùng, uy-quang rực-rỡ, soi khắp mọi cõi, như người có con mắt thanh-tịnh, trong một tầm (22) trông thấy diện-mạo người khác rõ-ràng không gì trở-ngại. Đã thấy thế rồi, vui mừng nhảy-nhót, xướng lên lời này: “Nam-mô A-Di-Đà Như-Lai, Ứng- Cúng, Chính-Biến-Tri…” tám vạn bốn nghìn chúng-sinh, đều phát tâm vô-thượng chính-đẳng chính-giác và trồng thiện-căn, nguyện sinh sang nước An- Lạc.
Bấy giờ Bồ-Tát, Thanh-Văn trong thế-giới An-Lạc, trông thấy cõi Sa-Bà này rồi, cho là lạ-lùng chưa từng có, vui mừng chắp tay lễ đức Thích-Ca Mưu-Ni Như-Lai, Ứng-Cúng, Chính-Biến-Tri… và xướng lên lời này: “Nam-mô Thích-Ca Mưu-Ni Phật, Ngài hay vì Bồ-Tát, Thanh-Văn, nói ra pháp như thế”. Lúc ấy, thế-giới An-Lạc, có sáu thứ chấn-động (23); có thứ: động là động khắp một loạt, động khắp cả; lay-động là lay-động khắp một loạt, lay-động khắp cả, rung-động là rung-động khắp một loạt, rung-động khắp cả.
Khi ấy, Đại-Bồ-Tát Quán-Thế-Âm và Đắc-Đại-Thế, bạch đức Phật A-Di-Đà rằng: “Lạ lắm, lạy đức Thế-Tôn! Đức Thích-Ca Như-Lai hiện ra những việc hiếm có! Tại Sao? – Vì, đức Thích-Ca Mưu-Ni Như-Lai, Ứng-Cúng, Chính-Biến-Tri… kia, hơi hiện danh-hiệu, mà vô-lượng đại-địa, đã có sáu thứ chấn-động”.
Bấy giờ, đức Phật A-Di-Đà bảo các vị Bồ-Tát kia rằng: “Đức Thích-Ca Mưu-Ni, không những chỉ hiện danh-hiệu Ngài ở cõi An-Lạc này, còn vô-lượng thế-giới chư Phật khác cũng đều hiện danh-hiệu cả và có ánh sáng lớn lao soi khắp, sáu thứ chấn-động, cũng lại như thế. Thế-giới của chư Phật kia, vô-lượng, vô số chúng-sinh, nghe thấy sự khen-ngợi danh-hiệu đức Thích-Ca Mưu-Ni, thiện-căn thành- tựu, đều được không thoái-chuyển đạo-quả Vô-thượng chính-đẳng chính-giác. Khi ấy, bốn mươi ức Bồ-Tát ở trong chúng kia, nghe thấy danh-hiệu đức Thích-Ca Mưu-Ni Như-Lai, Ứng-Cúng, Đẳng-Chính-Giác, đồng thanh phát nguyện, thiện-căn hồi-hướng đạo quả Vô-Thượng chính-đẳng chính-giác, Phật liền thụ-ký cho, sẽ được đạo-quả Vô-thượng chính-đẳng, chính-giác.
Bấy giờ, Đại-Bồ-Tát: Quán-Thế-Âm và Đắc-Đại-Thế, đến nơi đức Phật A-Di-Đà, đầu mặt lễ dưới chân Phật, cung kính, chắp tay đứng về một bên, bạch đức Phật A-Di-Đà rằng: “Lạy đức Thế-Tôn! Đức Phật Thích-Ca Mưu-Ni, do nhân gì, duyên gì, tỏa ra hào-quang sáng ấy?
Khi ấy, đức Phật A-Di-Đà bảo Bồ-Tát Quán-Thế-Âm: “Đức Như-Lai, Ứng-Cúng, Đẳng-Chính-Giác, tỏa ra hào-quang sáng ấy không phải là không có nhân duyên! Tại sao? – Vì, ngày nay đức Thích-Ca Mưu-Ni, Như-Lai, Ứng-Cúng, Chính- Biến-Tri, sắp muốn diễn thuyết về kinh: “Bồ-Tát trân-bảo xứ Tam-muội”, nên trước hiện ra điềm ấy”.
Bấy giờ Đại-Bồ-Tát: Quán-Thế-Âm và Đắc-Đại-Thế, bạch đức Phật A-Di-Đà rằng “Lạy đức Thế-Tôn! Chúng con muốn đến thế-giới Sa-Bà, lễ bái, cúng-dàng đức Phật Thích-Ca Mưu-Ni và nghe Ngài thuyết pháp!”
Đức Phật A-Di-Đà bảo: “Thiện-nam-tử! Các ông nên biết thời này là hợp thời, nên đến!”
Khi ấy, hai vị Bồ-Tát liền bảo nhau rằng: “Hôm nay chúng ta quyết-định đến nghe đức Phật Thích-Ca Mưu-Ni nói những pháp nhiệm mầu”. Và, cùng khi ấy hai vị Bồ-Tát lĩnh-thụ lời đức Phật A-Di-Đà dạy rồi, bảo bốn mươi ức Bồ-Tát quyến thuộc của thế giới An-Lạc kia rằng: “Thiện-nam-tử! Các vị nên cùng chúng tôi đến thế giới Sa-Bà, lễ-bái, cúng-dàng đức Phật Thích-Ca Mưu-Ni và lắng nghe, lĩnh-thụ chính pháp của Ngài. Tại sao? – Vì đức Thích-Ca Mưu-Ni Như-Lai, Ứng-Cúng, Đẳng-Chính-Giác, hay làm những việc khó làm: Ngài bỏ cõi nước thanh-tịnh, thắng-diệu, đem sức thệ-nguyện xưa kia, phát ra tâm đại-bi, ở trong đời ác vẩn đục: đức mỏng, phúc ít, thêm nhiều tham, sân, si, thành đạo-quả Vô-thượng chính-đẳng, chính-giác, mà vì chúng-sinh ở đấy thuyết pháp cho họ”.
Khi hai Bồ-Tát nói lời ấy, các Bồ-Tát, Thanh-Văn, đồng thanh tán-thán rằng: “Chúng-sinh cõi Sa-Bà kia, được nghe danh-hiệu đức Thích-Ca Mưu-Ni Như-Lai, Ứng-Cúng, Chính-Biến-Tri, sung-sướng được sự thiện-lợi, huống chi là người được trông thấy, phát tâm hoan-hỷ. Lạy đức Thế-Tôn! Chúng con sẽ cùng nhau đến thế-giới Sa-Bà, lễ-bái, cúng-dàng đức Phật Thích-Ca Mưu-Ni”.
Đức Phật A-Di-Đà bảo: Thiện-nam-tử! Các ông nên biết thời này là hợp thời, nên đến!”
Bấy giờ, Đại-Bồ-Tát: Quán-Thế-Âm và Đắc-Đại-Thế cùng bốn mươi ức Bồ-Tát, trước sau vây quanh. Trong thế giới An-Lạc các Bồ-Tát đều vì quyến thuộc dùng sức thần-thông, hóa làm bốn mươi ức đài báu trang-nghiêm. Các đài báu ấy dài rộng mười hai Do-tuần (24), đoan-nghiêm vi-diệu. Trên các đài báu ấy, có chỗ bằng vàng ròng, có chỗ bằng bạc thực, có chỗ bằng lưu-ly, có chỗ bằng pha-lê, có chỗ bằng xích-châu, có chỗ bằng sà-cừ, có chỗ bằng mã-não; có chỗ bằng hai thứ báu: vàng ròng và bạc thực, có chỗ bằng ba thứ báu: vàng, bạc, lưu-ly, có chỗ bằng bốn thứ báu: vàng ròng, bạc thực, lưu-ly, pha-lê, có chỗ bằng năm thứ báu: vàng, bạc, lưu-ly, pha-lê, xích-châu, có chỗ bằng sáu thứ báu: vàng ròng, bạc thực, lưu-ly, pha-lê, sà-cừ, xích-châu, có chỗ bằng bảy thứ báu: từ vàng cho đến mã-não. Lại dùng ngọc xích-châu, gỗ Chiên-đàn cùng các thứ hoa: Ưu-bát-la, Bát-đàm-ma, Câu-vật-đầu, Phân-đà-lỵ, để trang nghiêm vào đài ấy. Lại rải những thứ hoa như: hoa Tu-mạn-na, hoa Chiêm-bặc, hoa Ba-la-la, hoa A-đề-mục-đa, hoa La-ni, hoa Cồ-la-ni, hoa Mạn-đà-la, hoa Ma-ha mạn-đà-la, hoa Ba-lâu-sa, hoa Ma-ha ba-lâu-sa, hoa Mạn-thù-sa, hoa Ma-ha mạn-thù-sa, hoa Lô-già-na, hoa Ma-ha lô-già-na, hoa Già-ca, hoa Ma-ha già-ca, hoa Tô-lâu-chí-già-ca, hoa Chiên-na, hoa Ma-ha chiên-na, hoa Tô-lâu-chí-chiên-đà-na, hoa Chiên-nô-đa-la, hoa Tha-la, hoa Ma-ha tha-la (25). Những màu-sắc sặc-sỡ trên đài báu ấy, le-lói, rực-rỡ, trong-sạch soi sáng. Trên các đài báu, có tám vạn bốn nghìn hóa-ngọc-nữ, hoặc cầm những đàn: không-hầu, cầm, sắt, tranh, ống địch, tỳ-bà, kèn, trống… vô-lượng những nhạc-khí quý báu như thế, tấu lên những tiếng vi-diệu và nghiễm-nhiên an-trụ (26). Hoặc có ngọc-nữ cầm hương xích-chiên-đàn, hương trầm-thủy chiên-đàn, hoặc cầm hương hắc-trầm-thủy chiên-đàn và nghiễm-nhiên an-trụ. Hoặc có ngọc-nữ cầm các thứ hoa: Ưu-bát-la, Ba- đầu-ma, Câu-vật-đâu, Phân-đà-lỵ và nghiễm-nhiên an-trụ. Hoặc có ngọc-nữ cầm hoa Mạn-đà-la, hoa Ma-ha Mạn-đà-la, hoa Ba-lâu-sa, hoa Ma-ha ba-lâu-sa, hoa Lô-già-na, hoa Ma-ha lô-già-na, hoa Chiên-na, hoa Ma-ha chiên-na, hoa Tô-lâu-chí-chiên-na, hoa Già-ca, hoa Ma-ha già-ca, hoa Tô-lâu-chí-già-ca, hoa Tha-la, hoa Ma-ha tha-la, hoa Tô-lâu-tha-la và trang nghiêm an-trụ. Hoặc có ngọc-nữ cầm hết thảy thứ hoa quả và nghiễm-nhiên an-trụ. Những tòa sư-tử trang-nghiêm quý báu trên các đài báu, đều có các vị hóa-Phật, đủ ba mươi hai tướng, tám mươi thứ tướng tốt, tự trang-nghiêm thân mình. Trên đài lại đều treo tám vạn bốn nghìn thứ tạp-trân-châu có những sắc xanh, vàng, đỏ, trắng. Xâu suốt trên các đài báu đều có tám vạn bốn nghìn những bình quý báu, nhiệm-màu, đựng đầy hương bột, trưng-bày trên ấy. Trên các đài báu, đều có tám vạn bốn nghìn cái lọng quý báu, nhiệm-màu, che rợp trên ấy. Trên các đài báu, đều có tám vạn bốn nghìn những thứ cây quý, trồng ở trên ấy. Trên các đài báu, đều có tám vạn bốn nghìn chuông báu, chăng mắc trên ấy. Khoảng các cây báu có ao bảy báu, tám thứ nước công đức (27), đầy ngập trong ấy; trong ấy có những hoa sen tạp-bảo, sắc: xanh, vàng, đỏ trắng…; ánh sáng của những sắc ấy đẹp-đẽ, chói ngời. Gió hiu-hiu thổi động vào những hàng cây báu, phát ra những tiếng nhiệm-màu và tiếng ấy hòa-nhã hơn âm-nhạc cõi trời. Trên các đài báu đều có tám vạn bốn nghìn những dây báu đẹp, chằng-chịt trong những khoảng cây. Và, mỗi một đài báu ấy, ánh sáng soi suốt tám vạn bốn nghìn Do-tuần, không chỗ nào là không có ánh sáng rực-rỡ.
Đánh Giá
Chưa có đánh giá nào.