PHẬT NÓI KINH PHẠM MA DỤ

Nghe như vầy: Một thời đức Phật cùng với năm trăm vị Sa môn du hành ở tại nước Tùy Ðề. Bấy giờ có Thệ Tâm (Phạm chí) tên là Phạm Ma Dụ, người nước Di Li (Di Tát La), là bậc kỳ túc, đã một trăm hai mươi tuổi, rộng thông các kinh, tinh tú, đồ thơ, bậc…

—— Trích đoạn PHẬT NÓI KINH PHẠM MA DỤ

 

Giới thiệu chung

Đây là một trong những bộ kinh thâu nhiếp toàn bộ giáo lý nòng cốt, vạch ra phương pháp rèn luyện tâm thức và đạo đức một cách vô cùng chuẩn mực. Bối cảnh thuyết giảng thường diễn ra tại các khu rừng hoặc tịnh xá tĩnh lặng, nơi bậc Giác ngộ truyền đạt những kinh nghiệm thực tu cho hàng môn đệ khao khát chân lý. Từng lời giảng trong tác phẩm đều mang năng lượng tịnh hóa mạnh mẽ, giúp người đọc thấu triệt sự mỏng manh và duyên sinh của cuộc đời thế tục. Qua quá trình nghiên cứu và chiêm nghiệm, hành giả sẽ được tiếp thêm sức mạnh nội tâm, dễ dàng xả bỏ những muộn phiền đang ràng buộc cuộc sống hằng ngày. Ý nghĩa vĩ đại của bộ sách nằm ở chỗ nó không yêu cầu một niềm tin mù quáng, mà đòi hỏi sự tự trải nghiệm và chứng ngộ của chính mỗi cá nhân. Nhờ sức lan tỏa mạnh mẽ, văn bản đã trở thành điểm tựa vững chắc cho hàng triệu người trên con đường tìm kiếm sự bình yên thực sự. Sự bảo tồn vẹn nguyên di sản này minh chứng cho tính ưu việt của hệ thống triết học cổ đại trước thử thách của thời gian. Bộ kinh thực sự là một bảo vật vô giá, đóng vai trò bản lề để xây dựng một lối sống chánh niệm và an lạc.

Nội dung kinh

Nghe như vầy:

Một thời đức Phật cùng với năm trăm vị Sa môn du hành ở tại nước Tùy Ðề. Bấy giờ có Thệ Tâm (Phạm chí) tên là Phạm Ma Dụ, người nước Di Li (Di Tát La), là bậc kỳ túc, đã một trăm hai mươi tuổi, rộng thông các kinh, tinh tú, đồ thơ, bậc thầy dự biết mọi việc. Phạm Ma Dụ nghe đồn đức Phật là con của nhà vua, sanh trong dòng họ Thích, bỏ sự tôn vinh của nước, làm Sa môn, đã đắc đạo, thanh tịnh chí tôn, cùng với năm trăm Sa môn ở nước Tùy Ðề khai hóa chúng sanh. Phạm Ma Dụ hết sức tán thán rằng:

-Sa môn Cù Ðàm là bậc Thánh cao vòi vọi, là Như Lai, Ứng nghi, chánh chơn, giác đạo, thần thông, là bậc trượng phu, tôn hùng, Pháp ngự, chúng thánh, thầy của trời và người. Vị ấy đã trừ hết tâm ô uế, đã hết các điều ác, được tự giác, không điều gì mà Ngài không biết. Vị ấy ở giữa Sa môn, Thệ Tâm, Thích, Phạm, Long, Qủy vì họ thuyết pháp, phần đầu, phần giữa và phần cuối đều thanh tịnh, huyền diệu, trát tuyệt, các Thánh đều nghe danh.

Phạm Ma Dụ giảng rộng cho môn đồ một cách rõ ràng rằng: Ngài là bậc vô thượng, chánh giác, đúng là vua của các Thánh, chúng ta nên đảnh lễ và mong được giáo hóa.

Ðệ tử của Thệ Tâm là bậc Á thánh, tên là Ma Nạp, cũng rộng hiểu kinh điển, thông minh như thầy, có thể xem đủ các tướng bí mật để biết thân Phật có ba mươi hai tướng đặc thù, là bậc chí tôn vô song hay không? Hãy dùng tâm quán chiếu. Vị thầy bảo Ma Nạp:

-Ta nghe Cù Ðàm là bậc thần thánh vô thượng, chư thiên cùng tôn thờ, nói một mình, bước một mình, bước một mình, bậc hùng trong các Thánh. Vậy ngươi hãy đến xem thử oai nghi biểu lộ của Ngài có đúng là bậc mô phạm cho mọi người mà người ta đã tán thán chăng? Nếu ngươi nhận thấy quả đúng như vậy, ta sẽ đến cúi lạy, tôn thờ.

Ma Nạp hỏi rằng:

–Con nên lấy gì để quán sát?

Thầy đáp:

–Trong kinh há lại không nói sao? Rằng ở đời sau có một vị vua tên là Bạch Tịnh, hoàng hậu tên là Thanh Diệu, đầy đủ thông minh đạo đức, họ sanh ra người con Thánh, là vị trời giữa trời, độc tôn trong thiên hạ, thân thể cao một trượng sáu, có ba mươi hai tướng tốt. Nếu làm vua sẽ là vị phi hành Hoàng Ðế (Chuyển Luân Thánh Vương), nếu xuất gia học đạo làm Sa môn, chắc chắn sẽ thành Phật.

Ma Nạp vâng lời, đảnh lễ dưới chân thầy, đến nước Tuy Ðề, liền đến chỗ đức Phật vái chào khiêm cung lui qua một bên ngồi xuống, lắng lòng quan sát kỹ tướng tốt trên thân của đức Phật, nhưng không thấy hai tướng:

1. Tướng lưỡi rộng dài;

2. Tướng Âm mã tàng; trong ý nghi ngờ.

Ðức Phật biết trong tâm của Ma Nạp có điều nghi ngờ, Ngài liền dùng thần túc hiện tướng Âm mã tàng và hiện tướng le lưỡi rộng dài che luôn cả mặt, liếm tới mép tai bên trái, bên phải, rồi Ngài thu lưỡi vào miệng trở lại. Ngài phóng ra năm sắc hào quang bay quanh thân Ngài ba vòng rồi biến mất nơi đảnh đầu.

Lúc ấy trong tâm của Ma Nạp rung động, vừa mừng vừa sợ, sung sướng tán thán:

–Sa môn Cù Ðàm đích thực là đức Phật, Ngài có hảo tướng quang minh đầy đủ, thật là hi hữu trong thế gian, thật là đáng để gọi Ngài là Như Lai, Ứng cúng, bậc Chánh giác. Ta nên kính trọng theo Ngài để học oai nghi, để hóa giải sự ngu hoặc và thưa lại với thầy ta.

Ma Nạp liền tìm đến trong chỗ đức Thế Tôn thiền định, chỗ Ngài giáo hóa cùng khắp để cứu vớt chúng sanh. Ma Nạp hoặc nghỉ hoặc đi đều theo tăng chúng, chưa bao giờ ở một mình. Sáu tháng trôi qua, Ma Nạp theo Phật như bóng theo hình, đã xem đủ cái đức thần hóa vòi vọi của đức Phật, liền cúi lạy dưới chân đức Phật, cáo từ trở về bổn xứ. Khi đến chỗ thầy mình, Ma Nạp cúi lạy như xưa, rồi ngồi xuống tòa.

Thầy hỏi:

–Thầy bảo con đi quán sát oai nghi của Thiên tôn Cù Ðàm về tướng tốt, thần hóa có đúng như mọi người xưng dương? Không ngoa chăng? Hay là đúng như vậy? Ðể ta đến đảnh lễ dưới chân Ngài sát dưới mặt đất để tỏ lòng cung kính.

Ma Nạp thưa rằng:

–Ðức Phật có tướng tốt, thần đức hơn cả trời, vòi vọi khó xưng tán được. Dù cho Ðế Thích hay Phạm Thiên cũng không thể so lường được. Các Thánh cũng không thể trù lượng được, các hiền xưng tán dù đến ức năm cũng không được một phần của Ngài, huống chi là trí huệ như lửa đom đóm của con mà xưng tán hết được. Con chỉ nói một cách tóm lược về ba mươi hai tướng tuyệt thế của đức Phật mà thôi. Ðó là:

1. Sa môn Cù Ðàm có tướng lòng bàn chân bằng phẳng.

2. Tướng lòng bàn tay và lòng bàn chân của Ngài có hình bánh xe, bánh xe có một ngàn căm.

3. Tướng xương của Ngài đóng kín lại như móc câu.

4. Tướng ngón tay, ngón chân dài.

5. Tướng gót chân đầy.

6. Tướng tay chân mềm mại, lòng bàn tay có thể nắm ngược ra ngoài.

7. Tướng bàn tay, bàn chân của Ngài đều có màn lưới.

8. Ðùi của Ngài như tướng đùi hươu chúa.

9. Có tướng Mã âm tàng.

10. Tướng sắc thân Ngài có màu vàng tía, sáng láng rực rỡ.

11. Tướng thân của Ngài giống như Kim cương, tuyệt đối không có chút bẩn.

12. Tướng da thịt mềm mại, bụi nước không thể dính vào thân được.

13. Tướng mỗi lỗ chân lông đều mọc một sợi lông.

14. Tướng lông có màu xanh biếc, xoắn theo phía hữu.

15. Tướng thân vuông vức.

16. Tướng phần trên thân như thân sư tử.

17. Tướng thân không khòm, thân như thân của Phạm Thiên.

18. Tướng hai vai liên tiếp qua cổ đầy đặn.

19. Tướng khi đứng thẳng, hai tay sờ tới gối.

20. Tướng cằm như cằm sư tử.

21. Tướng có bốn mươi cái răng.

22. Tướng răng vuông vức.

23. Tướng răng đều đặn.

24. Tướng răng trắng trong, không ai sánh bằng.

25. Tướng lưỡi rộng dài.

26. Tướng răng có mùi vị bậc nhất.

27. Tướng tiếng nói như tiếng trời Phạm Thiên.

28. Tướng bảy chỗ trên thân (hai bàn tay, hai bàn chân, hai vai và cổ) đầy đặn.

29. Tướng trong mắt màu trắng có sắc xanh biếc.

30. Khóe mắt của Ngài trên và dưới đầy đặn như trâu chúa.

31. Tướng có một sợi lông trắng trong giữa hai hàng lông mày.

32. Tướng trên đảnh có nhục kế, rực rỡ hơn cả mặt trời, mặt trăng.

Sa môn Cù Ðàm có đầy đủ ba mươi hai tướng cao nhã, không thiếu tướng nào. Hình dáng thần diệu tuyệt vời, rất đặc thù, rất quý giá, vốn hy hữu từ xưa. Con xem lúc Cù Ðàm bước đi liền bước chân hữu trước, dài, ngắn, chậm hay mau đều hợp với oai nghi. Lúc đi, hai gót chân không chạm vào nhau. Lúc đi thân ngay thẳng, hai vai không lay động. Nếu Ngài nhìn lui, không dùng sức, đứng ngay thẳng, bỗng nhiên quay ra sau mà thân không quay, đầu không cúi xuống, không ngước lên, tay chân ngay thẳng, lúc đi ngay thẳng, chưa từng liếc ngó, oai nghi lúc bước đi là như vậy. Lúc Sa môn Cù Ðàm đi, chư thiên dâng bảo cái, rải hoa tuyết, trời, rồng, chim bay không dám bay lên trên. Chúng sanh trong ba cõi đều không thấy đảnh tướng của Ngài. Chư thiên trỗi nhạc đi theo để đưa Ngài. Long thần, Ðịa kỳ sửa đường ngay thẳng, không có cao thấp. Khi chân Ngài bước đi có in tướng bánh xe trên mặt đất, hào quang chiếu huy hoàng rực rỡ đến bảy ngày mới hết, cây rừng cúi đầu kính ngưỡng như người quỳ lạy đảnh lễ. Khi hành động phù hợp với sự cầu thỉnh. Xà nhà cao hay thấp Ngài vẫn để thân ngay thẳng mà vào, xà nhà không nâng cao thêm mà Cù Ðàm vẫn không cúi thấp xuống. Lúc ngồi, Ngài ngồi giữa giường, không thụt tới trước cũng không lui về sau. Ngài chéo tay mà ngồi, không hề chỉ trỏ, không có chống cằm. Lúc xuống giường không cần cong mình mà bỗng nhiên bước tới đất. Dù Thiên ma có mang độc dược tới hại Ngài, nhưng tâm Ngài vẫn không sợ hãi, mặt Ngài phát ra hào quang mà độc tự giải. Lòng từ thương xót chúng sanh mà độc nào chẳng tiêu. Ngài dùng bát lấy nước thì bát không nghiêng một bên, không vất vao lên, nước cũng không nhiều không ít. Lúc rửa bát, nước và bát đều vắng lặng, không có một tiếng chao động nhỏ. Ngài chưa bao giờ để bình bát dưới đất. Trong lúc rửa tay, tay và bát đều sạch. Lúc đổ nước trong bát ra hoặc cao, thấp xa gần đều thích hợp với chỗ muốn đổ. Lấy bát để nhận cơm, cơm không làm dơ bát. Khi đưa cơm vào miệng, nhai cơm, ba lần đưa cơm quanh miệng mới nuốt. Hạt cơm lúc Ngài ăn đều nát, không dính ở kẽ răng, thức ăn có bao nhiêu mùi vị Ngài đều phân biệt biết hết. Ngài ăn vừa đủ để nuôi thân, không phải để vui sướng. Cù Ðàm thọ thực là vì tám nhân duyên:

1. Không phải để vui chơi.

2. Không có tâm tà hạnh.

3. Chí muốn vô dục.

4. Không có hành động xảo ngụy.

5. Viễn ly ba cõi phiền não.

6. Khiến chí đạo vắng lặng, nương vào phước, được độ thoát, đoạn trừ sự đau nhức cũ của mười hai biển (mười hai nhân duyên).

7. Diệt trừ tội cũ để được đạo lực.

8. Giữ bất tưởng định không tịch.

Rồi Ngài rửa bát như trước. Ðối với pháp y, bình bát, ý Ngài không ghét cũng không đắm trước. Ngài vì người bố thí chú nguyện, thuyết kinh xong thì trở về tinh xá, không nói với đệ tử là ăn ngon, ăn dở. Ngài ăn xong đồ ăn tự tiêu hóa, không có sự dơ bẩn của việc đại tiểu tiện. Khi vào phòng, tịnh mặc, tư duy sâu xa các định, trong thời gian ngắn liền xuất định, chưa từng sai giờ. Ngày đêm không ngủ nhưng không bao giờ thiếu ngủ. Rộng phân biệt minh pháp để khuyên dạy, sách tấn đệ tử, làm cho họ được nhập đạo. Không dùng tài sắc là hạnh ô uế đạo để dạy cho các đệ tử. Ngài thuyết pháp cao xa mà không thể thấy nghe được ở các sách tiên thánh, làm cho mọi người hứng khởi, thanh tịnh hành đạo. Lúc kinh hành, Ngài không quay đầu liếc ngó. Nếu lúc đắp y, tư thế y không lơi khỏi thân, bụi không dính vào thân. Pháp phục nơi thân Ngài cao thấp, lúc gấp lúc hoãn đều đẹp. Khi vào vườn rửa chân, không cần chà rửa mà chân tự sạch. Thân sắc Ngài rạng ngời giống như trời vàng.

Ý Ngài không đắm trước ái dục, tâm như hư không. Lúc Ngài ngồi thiền định, hoát nhiên vô tưởng. Ba độc, bốn thống, năm ấm, sáu nhập, bảy kết, tám tào Ngài đều dùng trí tuệ vô thượng để tiêu diệt tất cả, Ngài dùng định: không, bất định, vô tướng, đoạn trừ chín thần xứ. Dùng thập thiện để tiêu trừ thập ác. Ngài nói mười hai bộ kinh là để bứng gốc cội rễ của mười hai nhân duyên, sáu mươi hai tà kiến, các ghẻ lở, phiền não tệ hại, làm cho tâm niệm uế trược được vắng lặng. Ngài dùng Tứ đẳng Ðại thừa để tự độ thân cao quý của Ngài và cứu vớt chúng sanh bằng cách thuyết những cảnh giới mô phạm. Ðệ tử chưa thưa hỏi mà Ngài đã tự cười, trong miệng ngài phóng ra luồng ánh sáng bao quanh Ngài ba vòng rồi từ từ biến mất.

Tôn giả A Nan sửa lại y phục, cúi lạy thưa hỏi:

–Thuyết pháp có mấy loại tiếng?

Ðức Phật liền đáp:

–Tiếng Ðại thuyết pháp có tám loại: tiếng rất hay, tiếng dễ hiểu, tiếng nhu nhuyến, tiếng điều hòa, tiếng trí tuệ tôn kính, tiếng không lầm lẫn, tiếng thâm sâu vi diệu, tiếng không yếu ớt. Lời nói không rơi rớt, thiếu sót, không có lỗi lầm. Mỗi lần Ðại thuyết kinh, hai mươi bốn cõi trời Phạm thiên, Ðế Thích, Tứ thiên vương, mặt trời, mặt trăng, tinh tú, trong đó có chư thần, Ðế vương, nhân dân, rồng quỷ, chẳng ai mà chẳng khâm phục, cúi lạy mà ra về, rồi phụng trì chấp hành vậy. Rồi đức Phật đi vào phòng ngồi im lặng. Chưa từng thấy đức Vô thượng Thiên khinh mạn đệ tử và các chúng sanh.

Con theo đức Cù Ðàm trong sáu tháng, như bóng theo hình, quan sát đầy đủ lúc Ngài đi, lúc ở, lúc kinh hành, lúc vào thất, tắm rửa súc miệng, ăn uống chú nguyện, thuyết kinh, lúc khuyến khích đệ tử, lúc thiền định …

Ma Nạp thưa:

–Cung cách, nghi dung của Cù Ðàm là như vậy. Sự trình bày của con giống như một giọt nước trong biển cả, không phải là chỗ thâm tưởng các thánh có thể biết được, chư thiên không thể hiểu hết, đất trời không thể luận bàn được. Vòi vọi thay bậc Vô thượng. To lớn thay không biên giới, không thể đo, không thể lường, khó mà nói cho hết được.

Phạm Ma Dụ nghe đệ tử nói về cái đức của đấng Thiên sư, ngạc nhiên rơi nước mắt mà nói rằng:

–Tuổi của ta như mặt trời sắp lặn, mãi chỉ sống uổng chết uổng mà không thấy được bậc thượng minh, thầy của trời.

Phạm Ma sung sướng rơi lệ nói:

-Ta nên đến gặp ngài để thấy được đức Phật, dù chết cũng vinh.

Rồi than thở rằng:

-Người ngu tuy có tuổi thọ của đất trời nhưng nào khác gì đất đá.

Ông liền đứng lên, sửa lại y phục, năm vóc gieo xuống đất, cúi lạy ba lần nói rằng:

–Con quy y Phật, quy y Pháp và quy mạng thánh chúng. Mong cho con lúc tuổi thọ còn sống sót được thân cận chiêm ngưỡng, đảnh lễ Thế Tôn và mong được hóa độ.

Ðức Phật dùng ánh sáng của lục thông thấy Phạm Ma tự quy y Phật, từ xa Ngài thọ ký cho vị ấy.

Ðức Phật từ nước Tùy Ðề, đến nước Di Di, ngồi dưới một gốc cây. Quốc vương, quần thần, thệ tâm, lý gia dần dần truyền nhau rằng:

–Sa môn Cù Ðàm xuất thân từ nhà họ Thích, con của vị đế vương, ở tại Xà Lê, nhưng nay thanh tịnh, chí tánh đạm bạc, không có sự ô uế của tham dâm, độc hại của nhuế nộ, tối tăm của ngu si, là bậc tối thượng của các Thánh, giống như ngôi sao có mặt trăng, thần đức rưới khắp, chư thiên tôn kính, là đức Như Lai, Ứng nghi, bậc Chánh chơn giác, đã hết vô minh ô uế, trí tuệ sáng ngời độc chiếu. Dù thần thánh tuy nhiều cũng không sánh kịp, bậc đứng giữa càn khôn, vị ấy thấy những việc khúc chiết, chấp trước vi tế trong mười phương, những mầm mống chưa sanh ở đương lai, chẳng chuyện gì mà chẳng biết. Những lời hay đẹp vị ấy nói ra tất cả đều chơn thật.

Quốc vương, quần thần, thệ tâm và cao sĩ đều bỗng nhiên nói rằng:

-Sanh thời chúng ta làm sao được gặp vị Thiên sư, đấng đáng tôn quý, đáng đội lên đầu, nên đến đảnh lễ để được thấm nhuần sự thuần hóa.

Nhơn đó họ cùng nhau hội tụ, xe ngựa, bộ hành và tự mình đến đảnh lễ dưới chân đức Phật, quỳ xuống chắp tay, tự nói lên tên mình, rồi đều ngồi xuống im lặng.

Phạm Ma Dụ nghe đức Phật cùng Thánh chúng đồng đến, hết sức vui mừng, bảo các đệ tử đồng đến chỗ đức Phật. Vừa đến ven rừng, vị ấy nghĩ rằng: “Trước hết ta hãy bảo người đến nói lên tấm lòng chí thành của ta đối với đức Phật. Nếu tự mình đi thẳng tới là không đúng pháp chăng?”.

Ông liền bảo đệ tử:

–Ngươi hãy nhân danh ta, đến cúi lạy dưới chân đức Phật, thưa rằng: Thệ tâm Phạm Ma Dụ, đã một trăm hai mươi tuổi, khao khát lời dạy của Thánh, muốn được chiêm ngưỡng luồng gió mát lành. Thưa Cù Ðàm, thân thể có thường an lạc, đạm bạc, vô dục chăng? Nay con đến xin yết kiến.

Người đệ tử đảnh lễ thầy, liền đến chỗ đức Phật, cúi lạy xong, trình bày đầy đủ lời thỉnh cầu của thầy mình, rồi vị ấy hướng về phía đức Phật, tán thán thầy mình rằng:

Đọc toàn văn →

Đánh Giá

Chưa có đánh giá nào.

Thêm đánh giá

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *