CÚI ĐẦU CHẮP TAY CUNG KÍNH
_ Đảnh lễ các bậc
Tôn sư đã dạy chúng con tu học.
_ Tạ ơn các Thiện tri thức đã giúp chúng con tu học.
_ Thỉnh các bậc cao minh chỉ dạy những thiếu sót.
_ Xin các đấng Từ bi cho chúng con sám hối những lỗi lầm.
_ Nguyện cầu mười phương chúng sanh đồng đạt trí tuệ giải thoát.
Lời Khai Thị
(Của
Tỳ-kheo Sidhimuni, tốt nghiệp quốc gia cao đẳng Pali Thái Lan) Tại Ku Ru, Phật thâm diệu giảng Tứ Niệm Xứ. Ngôn từ tế nhị như những ngọc châu được tôn trí trên hộp vàng chạm trổ thiện xảo.
Xứ Ku Ru khí hậu tốt, thực vật nhiều sinh khí. Nhân dân tráng kiện, có khả năng suy niệm sâu xa. Họ ham Tứ Niệm Xứ đến nỗi giai cấp nô lệ giặt áo bên sông hay ngồi bên khung cửi, chỉ bàn luận với nhau về Tứ Niệm Xứ. Ai không hành Tứ Niệm Xứ, liền bị cả làng khiển trách là một tử thi làm bẩn mặt đất.
Ai thực hành Tứ Niệm Xứ, liền được khen : “Lành thay! Sự sống có phẩm chất người”.
Tứ Niệm Xứ là giáo pháp vô song cho ta được nếm hương vị Niết-bàn. Giác có 2 : giác ngộ và giác sát. Giác ngộ là nhận được cái mình vốn có. Giác sát diệt vọng tưởng vô minh và những gì làm chướng sự giác ngộ. Tứ Niệm Xứ khai tuệ minh sát, cần thấm vào 4 oai nghi, hiện hình trong 3 nghiệp thân miệng ý. Tâm chúng ta phải là tấm gương luôn luôn giác chiếu. Nhờ trí minh sát chúng ta tự chủ được mỗi mỗi tâm niệm, mỗi mỗi hành vi, mỗi mỗi hơi thở.
Có vậy mới thanh lọc được những chủng tử vô minh, tập khí từ lịch kiếp, kẻ thù không đội trời chung của khách xuất thế.
Trước hết phải xa lìa tuyệt đối những tư tưởng ái luyến quá khứ, xây dựng vị lai. Tin chắc kiếp sống nhân sinh hoàn toàn do nghiệp lực an bài, nên chỉ cần tiêu nghiệp là sẽ hưởng an vui. Khôn không ăn, dại không thiệt, chỉ chánh kiến mới giải thoát. Loại trừ hết so đo tính toán của ý thức, chỉ nhắm thẳng vào hiện tại. Đi đứng thì chú trọng vào oai nghi, ngồi nằm thì để tâm vào hơi thở. Lâu dần thô tưởng tiêu mòn, ngoại trần hết vương, thấy rõ vô thường vô ngã, đời sống chỉ xây dựng trên 2 hơi thở ra vào mong manh.
Kinh dạy : “Thở ra biết thở ra, thở vào biết thở vào”. Gần đây ở Miến Điện, thiền sư Mahasi dạy : “Bụng phồng biết bụng phồng, bụng xẹp biết bụng xẹp”. Đây là có ý khuyên thở bằng bụng, tránh động thần kinh giao cảm ở tim, khiến tâm thần dễ an hòa. Lối thở này ngăn ngừa những cảm kích mạnh phát sanh.
Đứng về mặt sinh lý thì đây là chìa khóa đóng chặt cửa, không cho ô nhiễm xâm nhập vào tâm.
Trong hàng ức triệu sinh linh, chúng ta có may mắn được thân người, lại được nghe Phật Pháp. Phải cố gắng chuyên cần cầu giới định tuệ để hy vọng đạt đạo quả ngay kiếp sống này. Nếu lỡ dịp thì chúng ta vẫn y nhiên ở trong vòng quay tròn của triền miên sanh tử. Chúng ta thiết tha cần đổi cái xác già bệnh chết này lấy giới thân tuệ mạng.
Nhất định như vậy!
Con đường danh lợi của trần gian, không thể đưa đến chánh kiến. Đệ tử Phật quyết tâm cầu học y ly để tiến tới Niết-bàn.
CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ :
1- A-tỳ ngục tốt, phát khởi thiện tâm.
Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
2- A tăng kỳ kiếp, quả mãn nhân tròn.
Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
3- Nhất sanh bổ xứ, trên trời Đâu Suất.
Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
4- Ta-bà hóa độ, ứng hiện sanh thân.
Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
5- Đâu Suất giáng thần, ứng mộng Ma Gia.
Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
6- Hoàng cung thác chất, thị hiện đầu thai.
Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
7- Dưới cây Vô Ưu, khánh đản giáng sanh.
Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
8- Giả hưởng 5 dục, chán cảnh vô thường.
Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
9- Dạo chơi 4 cửa, rõ già bệnh chết.
Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
10- Nửa đêm vượt thành xuất gia học đạo.
Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
11- Non xanh cắt tóc, tìm
Thầy hỏi đạo.
Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
12- Núi Tuyết tu hành, 6 năm khổ hạnh.
Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
13- Dưới cây Bồ-đề, hàng phục ma quân.
Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
14- Sao mai vừa mọc, đạo quả viên thành.
Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
15- Bốn chín năm tròn thuyết pháp độ sanh.
Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
16- Tam thừa đã đủ, hóa độ vừa xong.
Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
17- Ta La song thọ, thị hiện Niết-bàn.
Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
18- Lưu bố xá-lợi, phước ích trời người.
Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
19- Ta-bà giáo chủ đại từ bi phụ.
Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
20-
Đương hội đạo tràng thiên bách ức hóa thân.
Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
KINH TỨ NIỆM XỨ
Ta nghe như vầy :
Một thời Thế Tôn ở xứ Ku Ru dạy rằng : Này các Tỳ-kheo! Đây là con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh, vượt khỏi sầu não, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết-bàn. Đó là 4 niệm xứ. Những gì là 4?
1- Sống quán thân trên thân, tinh cần, tỉnh giác, chánh niệm, chế ngự tham ưu.
2- Sống quán thọ trên thọ, tinh cần, tỉnh giác, chánh niệm, chế ngự tham ưu.
3- Sống quán tâm trên tâm, tinh cần, tỉnh giác, chánh niệm, chế ngự tham ưu.
4- Sống quán pháp trên pháp, tinh cần, tỉnh giác, chánh niệm, chế ngự tham ưu.
* * *
I/- QUÁN THÂN TRÊN THÂN
1- Tỳ-kheo đi đến khu rừng, gốc cây hay ngôi nhà trống, kiết già, lưng thẳng, chánh niệm.
Tỉnh giác vị ấy thở vào.
Tỉnh giác vị ấy thở ra.
Thở vô dài, vị ấy biết ta thở vô dài.
Thở ra dài, vị ấy biết ta thở ra dài.
Thở vô ngắn, vị ấy biết ta thở vô ngắn.
Thở ra ngắn, vị ấy biết ta thở ra ngắn.
Cảm giác toàn thân ta thở vô, vị ấy tập.
Cảm giác toàn thân ta thở ra, vị ấy tập.
An định toàn thân ta thở vô, vị ấy tập.
An định toàn thân ta thở ra, vị ấy tập.
Như thợ quay thiện xảo, khi quay dài, biết “tôi quay dài”. Khi quay ngắn, biết “tôi quay ngắn”.
Như vậy Tỳ-kheo sống quán thân trên nội thân, sống quán thân trên ngoại thân, sống quán thân trên nội ngoại thân. Sống quán tánh sanh khởi trên thân, sống quán tánh diệt tận trên thân, sống quán tánh sanh diệt trên thân. Trên thân, vị ấy an trụ chánh tri với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm.
Tỳ-kheo sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì ở đời.
2- a)
Tỳ-kheo đi biết “tôi đi”, đứng biết “tôi đứng”, ngồi biết “tôi ngồi”, nằm biết “tôi nằm”. Thân thể được sử dụng thế nào đều biết rõ. b) Tỳ-kheo bước tới bước lui, biết rõ việc mình đang làm. Tỳ-kheo ngó tới ngó lui, biết rõ việc mình đang làm. Đắp y Tăng-già-lê, mang bát, mặc áo, biết rõ việc mình đang làm. Đại tiện, tiểu tiện, biết rõ việc mình đang làm.
Như vậy Tỳ-kheo sống quán thân trên nội thân, sống quán thân trên ngoại thân, sống quán thân trên nội ngoại thân. Sống quán tánh sanh khởi trên thân, sống quán tánh diệt tận trên thân, sống quán tánh sanh diệt trên thân. Trên thân, vị ấy an trụ chánh tri với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm.
Tỳ-kheo sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì ở đời.
3- Tỳ-kheo quan sát thân này, từ chân đến đảnh tóc, chứa đầy những vật bất tịnh : tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, thận, tim, gan, bầy nhầy, bao tử, phổi, lá lách, ruột già, ruột non, phân, óc, mật, đờm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ đặc, mỡ lỏng, nước mắt, nước mũi, nước miếng, nước nhớp, nước tiểu.
Cũng như một bao đựng đầy hột, một người tinh mắt đổ bao ra và quan sát : “Đây là hạt gạo, đây là hạt lúa, đây là đậu xanh, đây là đậu đen, đây là hạt mè…”
Như vậy Tỳ-kheo sống quán thân trên nội thân, sống quán thân trên ngoại thân, sống quán thân trên nội ngoại thân. Sống quán tánh sanh khởi trên thân, sống quán tánh diệt tận trên thân, sống quán tánh sanh diệt trên thân. Trên thân, vị ấy an trụ chánh tri với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm.
Tỳ-kheo sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì ở đời.
4- Tỳ-kheo quan sát : “Trong thân này có đất nước gió lửa”. Như người đồ tể thiện xảo giết bò rồi cắt chia từng phần.
Như vậy Tỳ-kheo sống quán thân trên nội thân, sống quán thân trên ngoại thân, sống quán thân trên nội ngoại thân. Sống quán tánh sanh khởi trên thân, sống quán tánh diệt tận trên thân, sống quán tánh sanh diệt trên thân. Trên thân, vị ấy an trụ chánh tri với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm.
Tỳ-kheo sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì ở đời.
5- a)
Tỳ-kheo thấy thây chết quăng bỏ trong nghĩa địa
1 ngày,
2 ngày,
3 ngày, trương phồng, xanh đen, nát thối. Tỳ-kheo quán : “Thân ta tánh chất cũng như vậy, bản tánh là như vậy. Mai đây không thể khác cảnh ngộ này”. b) Tỳ-kheo thấy thây chết quăng bỏ trong nghĩa địa, bị các loài quạ, diều hâu, kên kên, chó, dã can, côn trùng rỉa ăn. Tỳ-kheo quán : “Thân ta tánh chất cũng như vậy, bản tánh là như vậy. Mai đây không thể khác cảnh ngộ này”. c) Tỳ-kheo thấy trong nghĩa địa bộ xương còn dính thịt và máu, còn các đường gân cột lại. Có bộ xương không còn thịt nhưng còn máu. Có xương không còn liên kết, rải rác chỗ này chỗ kia. Đây là xương tay, đây là xương chân, xương ống, xương bắp vế, xương mông, xương sống, xương đầu… Tỳ-kheo quán : “Thân ta tánh chất cũng như vậy, bản tánh là như vậy. Mai đây không thể khác cảnh ngộ này”. d) Tỳ-kheo thấy thây chết quăng bỏ trong nghĩa địa chỉ còn toàn xương trắng màu vỏ ốc, hoặc chỉ còn một đống xương lâu năm, hoặc đang mủn thành bột. Tỳ-kheo quán :
“Thân ta tánh chất cũng như vậy, bản tánh là như vậy. Mai đây không thể khác cảnh ngộ này”.
Như vậy Tỳ-kheo sống quán thân trên nội thân, sống quán thân trên ngoại thân, sống quán thân trên nội ngoại thân. Sống quán tánh sanh khởi trên thân, sống quán tánh diệt tận trên thân, sống quán tánh sanh diệt trên thân. Trên thân, vị ấy an trụ chánh tri với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm.
Tỳ-kheo sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì ở đời.
* * *
Tỳ-kheo lìa dục sanh hỷ lạc, chứng sơ thiền. Khắp thân vui nhuận sung mãn như xà bông hòa vào nước, không giọt nước nào chẳng có xà bông.
Tỳ-kheo do định sanh hỷ lạc, chứng nhị thiền. Toàn thân vui nhuận sung mãn như nước suối từ đỉnh núi chảy xuống tràn trề.
Tỳ-kheo không hỷ còn lạc, nhập tam thiền. Toàn thân vui nhuận như cây sen sanh trưởng trong nước. Ngó cọng hoa lá đều đượm sức mát của nước trong.
Tỳ-kheo dùng tâm thanh tịnh nhập tứ thiền. Như người trùm vải trắng từ đầu đến chân, chỗ nào cũng trắng toát.
Tỳ-kheo khéo thọ trì, khéo tưởng nhớ. Như trước sau cũng vậy, như sau trước cũng vậy. Như đêm ngày cũng vậy, như ngày đêm cũng vậy. Như trên dưới cũng vậy, như dưới trên cũng vậy. Như thế tâm không đảo lộn, không ràng buộc, không mờ tối, tu tâm quang minh.
* * *
II/- QUÁN THỌ TRÊN THỌ
Tỳ-kheo cảm giác vui, biết thọ vui.
Tỳ-kheo cảm giác khổ, biết thọ khổ.
Tỳ-kheo cảm giác không khổ không vui, biết không khổ không vui.
Khi cảm giác vui thuộc vật chất, biết rằng : “Tôi cảm giác vui thuộc vật chất”. Khi cảm giác vui thuộc tinh thần, biết rằng : “Tôi cảm giác vui thuộc tinh thần”. Khi cảm giác khổ thuộc vật chất, biết rằng : “Tôi cảm giác khổ thuộc vật chất”. Khi cảm giác khổ thuộc tinh thần, biết rằng : “Tôi cảm giác khổ thuộc tinh thần”. Khi cảm giác không khổ không vui thuộc vật chất, biết rằng : “Tôi cảm giác không khổ không vui thuộc vật chất”. Khi cảm giác không khổ không vui thuộc tinh thần, biết rằng : “Tôi cảm giác không khổ không vui thuộc tinh thần”.
Như vậy Tỳ-kheo sống quán thọ trên nội thọ, sống quán thọ trên ngoại thọ, sống quán thọ trên nội ngoại thọ. Sống quán tánh sanh khởi trên các thọ, sống quán tánh diệt tận trên các thọ, sống quán tánh sanh diệt trên các thọ. Y cứ hiện tiền thọ, Tỳ-kheo sống an trụ chánh tri với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Tỳ-kheo sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì ở đời.
* * *
III/- QUÁN TÂM TRÊN TÂM
Tỳ-kheo tâm có tham, biết rằng tâm có tham.
Tỳ-kheo tâm không tham, biết rằng tâm không tham.
Tỳ-kheo tâm có sân, biết rằng tâm có sân.
Tỳ-kheo tâm không sân, biết rằng tâm không sân.
Tỳ-kheo tâm có si, biết rằng tâm có si.
Tỳ-kheo tâm không si, biết rằng tâm không si.
Tỳ-kheo tâm thâu nhiếp, biết rằng tâm thâu nhiếp.
Tỳ-kheo tâm tán loạn, biết rằng tâm tán loạn.
Tỳ-kheo tâm quảng đại, biết rằng tâm quảng đại.
Tỳ-kheo tâm hữu hạn, biết rằng tâm hữu hạn.
Tỳ-kheo tâm vô thượng, biết rằng tâm vô thượng.
Tỳ-kheo tâm có định, biết rằng tâm có định.
Tỳ-kheo tâm không định, biết rằng tâm không định.
Tỳ-kheo tâm giải thoát, biết rằng tâm giải thoát.
Tỳ-kheo tâm không giải thoát, biết rằng tâm không giải thoát.
Như vậy Tỳ-kheo sống quán tâm trên nội tâm, sống quán tâm trên ngoại tâm, sống quán tâm trên nội ngoại tâm. Sống quán tánh sanh khởi trên tâm, sống quán tánh diệt tận trên tâm, sống quán tánh sanh diệt trên tâm. Y cứ hiện tiền tâm, Tỳ-kheo sống an trụ chánh tri với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Tỳ-kheo sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì ở đời.
* * *
IV/- QUÁN PHÁP TRÊN PHÁP
A. 1- Năm triền cái : a) Tỳ-kheo nội tâm có ái dục, biết nội tâm có ái dục. Nội tâm không ái dục, biết nội tâm không ái dục. Ái dục chưa sanh nay sanh khởi, ái dục đã sanh nay đoạn diệt. Ái dục đã đoạn diệt, tương lai không sanh nữa, mỗi mỗi biết rõ. b) Nội tâm có sân hận, biết nội tâm có sân hận. Nội tâm không sân hận, biết nội tâm không sân hận. Sân hận chưa sanh nay sanh khởi, sân hận đã sanh nay đoạn diệt. Sân hận đã đoạn diệt, tương lai không sanh nữa, mỗi mỗi biết rõ. c) Nội tâm có thùy miên, biết nội tâm có thùy miên. Nội tâm không thùy miên, biết nội tâm không thùy miên. Thùy miên chưa sanh nay sanh khởi, thùy miên đã sanh nay đoạn diệt. Thùy miên đã đoạn diệt, tương lai không sanh nữa, mỗi mỗi biết rõ. d) Nội tâm có trạo hối, biết nội tâm có trạo hối. Nội tâm không trạo hối, biết nội tâm không trạo hối. Trạo hối chưa sanh nay sanh khởi, trạo hối đã sanh nay đoạn diệt. Trạo hối đã đoạn diệt, tương lai không sanh nữa, mỗi mỗi biết rõ. đ) Nội tâm có nghi, biết nội tâm có nghi. Nội tâm không nghi, biết nội tâm không nghi. Nghi chưa sanh nay sanh khởi, nghi đã sanh nay đoạn diệt. Nghi đã đoạn diệt, tương lai không sanh nữa, mỗi mỗi biết rõ.
2- Năm thủ uẩn :
Tỳ-kheo suy tư đây là sắc, đây là sắc sanh, đây là sắc diệt.
Tỳ-kheo suy tư đây là thọ, đây là thọ sanh, đây là thọ diệt.
Tỳ-kheo suy tư đây là tưởng, đây là tưởng sanh, đây là tưởng diệt.
Tỳ-kheo suy tư đây là hành, đây là hành sanh, đây là hành diệt.
Tỳ-kheo suy tư đây là thức, đây là thức sanh, đây là thức diệt.
3- Sáu nội ngoại xứ :
Tỳ-kheo biết : mắt duyên sắc, tai duyên thanh, mũi duyên hương, lưỡi duyên vị, thân duyên xúc, ý duyên pháp. Do đây kết sử phát khởi. Tỳ-kheo biết kết sử nay đoạn diệt, kết sử đã đoạn diệt, tương lai không sanh nữa.
Đánh Giá
Chưa có đánh giá nào.